Lâu nay tôi cứ có thắc mắc, tại sao một số vị sư Nam truyền hay công kích kinh điển Đại thừa (Bắc truyền) và chụp cho nó chiếc mũ “Bà-la-môn” với cái nghĩa khá méo mó, xem như một dạng ngoại đạo, không phải đạo Phật.
Thứ nhất, cần nói cho rõ, tất cả các kinh Nam truyền hay Bắc truyền đều không phải do Đức Phật Thích Ca khi sinh tiền ghi lại, mà sau khi Phật nhập diệt, trải qua 6 lần kiết tập, sao chép, kéo dài trong nhiều thế kỷ mà hình thành. Nên từ dùng “nguyên chất” để xem mình đúng nhất đối với bất kỳ bộ kinh nào đều không phản ánh bản chất lịch sử truyền thừa theo ý thức thời đại của từng hệ truyền.
Thứ hai, để xác định chánh kinh hay nguỵ kinh vô cùng phức tạp, đòi hỏi những nghiên cứu đa ngành chứ không thể vì nó không giống hệ truyền của mình mà ra sức phủ định. Với vấn đề này các nhà nghiên cứu đã khá thống nhất khi chỉ ra rằng, tất cả các bộ kinh dù Nam hay Bắc truyền có xuất xứ và được lưu hành ở Ấn Độ thì đều được xem là chánh kinh và ngoài Ấn Độ thì xem là nguỵ kinh. Nguỵ kinh không phải chỉ hiểu theo nghĩa là lệch lạc mà đôi khi nhờ so sánh đối chiếu tỉ mỉ mà nó có giá trị bổ túc cho chánh kinh.
Thứ ba, dù hệ kinh Nam truyền hay Bắc truyền thì đều giữ nguyên những giá trị cốt lõi của Đạo Phật như lý duyên khởi, nhân quả, nghiệp báo, tứ đế, bát chánh đạo… Dù Nam truyền hay Bắc truyền, dù theo dòng Thiền, Mật hay Tịnh thì không dòng nào phủ nhận hệ giáo lý căn bản, cốt lõi này.
Thứ tư, khái niệm Bà-la-môn với Phật giáo Bắc truyền được hiểu một cách khá nghiêm túc, được nói rõ trong kinh Pháp Hoa và nhiều kinh điển Đại thừa khác, rằng vì phương tiện độ sinh, Bồ-tát có thể thể hiện các thân tướng như vua chúa, quan lại, Bà-la-môn… để giáo hoá chúng sinh.
Lịch sử cũng chỉ ra rõ, trước khi chưa thành đạo, Đức Phật Thích Ca cũng tu học theo 6 vị thầy Bà-la-môn ngoại đạo. Khi chưa có đạo Phật, nền giáo dục Ấn độ cổ đại là nền giáo dục Bà-là-môn. Thái tử Tất Đạt Đa thừa hưởng trọn vẹn nền giáo dục ấy. Một số khái niệm về nghiệp, luân hồi tái sinh, sau được Đức Phật sử dụng và lý giải nó bằng việc khẳng định lý duyên khởi và phủ nhận định mệnh, cụ thể là trật tự đẳng cấp do một Thượng đế duy nhất quyết định.
Thứ năm, giáo lý cả Nam và Bắc truyền đều dựa trên tinh thần khế lý (hợp giáo lý) khế cơ (hợp căn cơ), khế thời (hợp thời đại). Mỗi một quốc gia theo Bắc truyền, hình thái kiến trúc, điêu khắc, y phục đều mang những nét đặc thù của quốc gia ấy. Nam truyền cũng không ngoại lệ. Cho nên việc tạc tượng, xây chùa, dựng tháp không hề là mẫu hình chung cho mỗi quốc gia, nhưng lòng tôn kính thông qua biểu tượng giữa các truyền thống đều không có gì ngăn ngại.
Thứ sáu, cần lưu ý, khi dùng từ “ngoại đạo” với ý miệt thị, kỳ thì là sai với nguyên tắc khoan dung tôn giáo mà đạo Phật theo đuổi suốt mấy nghìn năm qua. Tất cả những môn học ngoài kinh điển đạo Phật mà bất cứ người Phật tử nào được học trong nhiều giai đoạn cuộc đời đều từ “ngoại đạo” đưa đến. Nếu cầm một cuốn sách triết đông, triết tây, một cuốn tiểu thuyết, một bộ sách tâm lý học đọc được mà cầm một quyển kinh Đại thừa lại mỉa mai, chế giễu thì phải xem lại tư duy và nhận thức của mình. Đơn cử, xem việc người ta tu niệm Phật A Di Đà, thờ Bồ-tát Quán Âm là “mê tín”, còn mình thì thờ thần rắn, Phạm thiên. Đả phá người ta cầu tài cầu lộc còn mình lại thờ ngài Sivali như ông tổ về tài lộc, kích bác người khác trì chú còn mình thì tụng chú chiêu tài. Vậy thứ hỏi những thứ đó do “ngoại đạo” nào bày ra?
Một số người quá khích còn mượn danh tu theo “Nguyên thủy” đập phá tượng Phật Di Đà, Quán Âm, trong khi tượng Phật, tượng thầy mình thì tôn lên vái lạy.
Trong một xã hội, cuộc sống là tương quan và liên đới, những việc làm gì ích mình lợi người và ích lợi cho cả hai thì dù không đứng dưới danh nghĩa Phật giáo thì cũng mang trong mình những giá trị Phật giáo.
Thứ bảy, việc nhìn nhận đúng sai tuỳ vào góc nhìn. Điều này không mới với ví dụ 5 người mù rờ voi mà Phật giáo hay ví dụ. Góc nhìn khác cho ra kết luận khác, hiển nhiên là vậy. Nhưng cái đáng lên án là cả 5 anh mù đều bám vào góc thấy của mình và cho đó mới là chân lý, nhảy vào choảng nhau sứt đầu mẻ trán. Đúng sai chưa tỏ, nhưng vô minh đã hiển bày qua thái độ và hành động ẩu đả bằng chân tay, ngôn từ.
Thứ tám, cái sai trong nhận thức có thể thay đổi, điều chỉnh mỗi khi có điều kiện thuận lợi hay thay đổi môi trường sống, môi trường giáo dục. Cái cần giữ là niềm tin thuần khiết và lòng khiêm cung tôn kính buổi đầu, trong hoàn cảnh nào cũng nhớ nghĩ ơn Phật.
Tu tập là hành trình thực chứng của mỗi cá nhân (nóng lạnh tự biết, ai ăn người ấy no). Cho nên những thuận duyên chướng duyên nhìn dưới góc độ vi phạm giới luật hay chưa được học một cách căn bản hoàn toàn là vấn đề cá nhân. Y vào pháp thì không sai lầm, y vào cá nhân (dù học vấn hay tu chứng đến đâu) vẫn có khả năng xảy sai lầm.
Tạm kết
Trong lúc thế giới chia phe đánh nhau, mà ẩn sau nó là cội nguồn mâu thuẫn tôn giáo, thì người học Phật nên theo những xung đột kia mà suy ngẫm, không nên nhân danh cái “nguyên chất” tự phong mà tự gây mâu thuẫn với các hệ phái, tông phái vốn không khởi mâu thuẫn gì với mình.
Nhìn vào những tổn thương xã hội kia để biết ơn tổ tiên mình, thầy tổ mình đã khổ công dung hợp tín ngưỡng văn hóa, để cái đạo mình đang theo và các tôn giáo khác trong xã hội có được những ứng xử khoan dung mà không nuôi trồng hạt giống chiến tranh tôn giáo. Bởi nhân loại từ xưa đến nay, xung đột bởi tôn giáo vẫn là xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử loài người.
Cuộc sống là một chuỗi dài của những tương quan và liên đới, việc làm gì ích mình lợi người và ích lợi cho cả hai thì dù không đứng dưới danh nghĩa Phật giáo thì cũng mang trong mình những giá trị Phật giáo.
Cho nên cần đặt ra câu hỏi mình học Phật để tu hay học Phật để tranh hơn tranh kém với tông môn, đồng đạo, gây chia rẽ hoang mang giữa các dòng tu và giữa các Phật tử với nhau?
Thích Thanh Thắng
Bình Luận Bài Viết