Hình: đôi tay 1 nhà nho cầm bút lông viết chữ, móng tay để dài, ảnh màu Léon Busy chụp ở Bắc Kỳ mùa thu năm 1915 (Bảo tàng Albert-Kahn).
Hồi đi học, ai cũng thuộc câu 1.000 năm Bắc thuộc mà ta không bị đồng hóa, vẫn giữ được tiếng nói. Nghe thì tự hào phết. Có điều cũng chính 1.000 năm ấy, rồi thêm gần 1.000 năm tự chủ, giấy tờ của triều đình ta vẫn viết bằng chữ Hán. Từ chiếu vua, sớ quan đến sổ đinh, văn tế, bài thi…, tất cả đều chữ Hán.
Ấy vậy mà ngoài chợ người ta vẫn mặc cả bằng tiếng Việt, trong nhà mẹ vẫn ru con bằng tiếng Việt. Nói 1 đằng, viết 1 nẻo, mà kéo dài đến gần 2.000 năm, kể cũng lạ thật!
Vậy tiếng Việt có từ bao giờ, ai nghĩ ra nó? Bị đô hộ lâu như thế, sao ta không thành ra nói tiếng Tàu? Người Tàu sang đây nghe ta nói có hiểu không, còn ta nghe họ nói có hiểu không? Chữ Nho với chữ Hán là 1 hay là 2? Có tiếng Hán, tiếng Nôm không? Chữ Nôm ai đặt ra, đặt ra để làm gì, mà đã có rồi sao triều đình không dùng? Chưa kể, các cụ thời phong kiến ngoài chữ Nho ra thì còn biết chữ gì?
Đọc lại Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cùng mấy cuốn sách viết về tiếng Việt, thì thấy sách cũ đã chép gần đủ cả.
I TIẾNG VIỆT CÓ TỪ BAO GIỜ, AI NGHĨ RA?
Xin thưa, chẳng ai nghĩ ra tiếng Việt cả. Chữ viết thì có người đặt ra, có năm ra đời, còn tiếng nói thì bố mẹ nói, con cái nói theo, đời trước truyền cho đời sau, mỗi đời lại đổi đi 1 ít. Thế nên chẳng ai biết tiếng Việt có từ năm nào, ai là người nói đầu tiên.
Tức là hỏi tiếng Việt có từ bao giờ thì chỉ hỏi được là sử sách ghi lại tiếng Việt sớm nhất ở đâu. Mà oái oăm thay, chỗ ghi sớm nhất lại là bộ sử viết bằng chữ Hán!
Toàn thư chép năm 791, Phùng Hưng ở Đường Lâm dấy binh vây phủ đô hộ nhà Đường, viên đô hộ là Cao Chính Bình lo sợ mà c.h.ế.t. Phùng Hưng vào giữ phủ được ít lâu thì mất, con là An tôn cha làm Bố Cái Đại Vương, rồi sử thần chua thêm 1 câu: "tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái" [1].
Thế là 2 tiếng nói của người làng được sử thần chép vào sử, ấy là vào cuối thế kỷ 8, tức là giữa thời Bắc thuộc. Tiếng bố thì đến nay ta vẫn gọi, còn tiếng cái nghĩa là mẹ thì giờ chỉ còn sót lại trong câu con dại cái mang.
Còn trước nữa thì phải hỏi các nhà ngôn ngữ học. Họ đem tiếng Việt so với tiếng của các dân tộc xung quanh, thấy gần nhất là tiếng Mường, xa hơn 1 chút là tiếng Khmer, Ba Na, Ka Tu, Kha Mú. Sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt xếp tiếng Việt với tiếng Mường vào nhóm Việt Mường, thuộc ngành Môn Khmer, dòng Nam Á, còn tiếng Hán thì thuộc 1 ngữ hệ khác hẳn là Hán Tạng [2].
Nói nôm na, tiếng Việt cùng "họ" với tiếng Mường, tiếng Khmer bên Campuchia, còn tiếng Tàu thì khác họ hẳn.
Lưu ý là tiếng Việt xưa cũng không giống tiếng Việt bây giờ. Năm 1651, giáo sĩ Alexandre de Rhodes in ở Roma 1 cuốn sách giáo lý, nhan đề tiếng Việt là "Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, ma beào đạo thánh đức Chúa blời" [3]. Blời tức là trời.
Những người soạn Tự điển chữ Nôm trích dẫn cũng gặp trong văn bản Nôm những chữ ghi âm blời, klước, mlời, mà nay ta nói là trời, trước, lời. Họ gọi đó là "dấu vết âm Việt cổ" [4]. Như vậy, cách đây gần 400 năm, ông cha ta còn nói những âm kép mà nay không ai nói nữa. Hóa ra cụ tổ nhà mình mà về đây nói chuyện thì con cháu nghe cũng lơ mơ phết.
II SAO NGHÌN NĂM BẮC THUỘC MÀ TA VẪN NÓI TIẾNG TA?
Nghe đến "1.000 năm đô hộ", nhiều người hình dung ra cảnh làng trên xóm dưới chỗ nào cũng có quan Tàu, lính Tàu đứng canh. Thực ra không phải thế.
Năm 231, Thái thú Hợp Phố là Tiết Tống dâng sớ lên vua Ngô, kể rằng từ khi nhà Hán mở 9 quận thì đã "dời những người phạm tội ở Trung Quốc sang ở lẫn vào các nơi ấy, cho học sách ít nhiều, hơi thông hiểu lễ hóa" [5]. Rồi ông kể tiếp, đến khi Tích Quang, Nhâm Diên làm thái thú, dựng nhà học, dạy lễ nghĩa thì "từ đấy trở đi, hơn 400 năm, dân tựa hồ đã có quy củ" [5].
Ô! 1 ông quan Tàu kể công của chính triều mình mà cũng chỉ dám nói dân Giao Chỉ "hơi" thông hiểu, "tựa hồ" có quy củ! Tức là sau mấy trăm năm, khai hóa vẫn chưa ăn thua mấy.
Lê Xuân Thái, trong cuốn sách về từ Hán Việt, có tả lại bộ máy đô hộ. Buổi đầu nhà Hán "chỉ mới nắm được một số trung tâm dùng làm nơi trị sở như Mê Linh, Tây Vu, Luy Lâu", còn "từ huyện trở xuống thì thực quyền vẫn trong tay người Việt". Phải đến sau khi Mã Viện đ.á.n.h Hai Bà Trưng, quan Hán mới xuống tới huyện. Đến đời Đường, bộ máy ấy mới "đi sâu xuống tận xã" [6].
Nói chung, mấy trăm năm đầu, người dân quê có khi cả đời chưa phải đứng trước 1 ông quan Tàu nào.
Vả lại, chữ Hán là của người đi học, mà người đi học thì ít lắm. Đến đầu thế kỷ 20 mà Phan Kế Bính còn tả cảnh nhà nghèo "con lên bảy, tám tuổi còn phải ở nhà bồng em", 9, 10 tuổi đã phải đi làm ăn, "không mấy nhà cho đi học", còn con gái thì "ít người cho đi học" [7]. Thời tự chủ đã thế, thì thời Bắc thuộc hẳn người đi học còn ít hơn nữa.
Thiết nghĩ, người nông dân Giao Chỉ không đi học, không phải hầu quan, thì cũng chẳng có dịp nào phải bỏ tiếng mình mà nói tiếng Hán. Đứa trẻ học nói từ mẹ, từ bà, mà mẹ với bà thì đều nói tiếng Việt cả. Đơn giản thế thôi.
Tiếng Việt thì mượn tiếng Hán rất nhiều, có những tiếng mượn từ rất sớm, sớm đến nỗi bây giờ ta cứ tưởng là tiếng thuần Việt. Lê Xuân Thái kể ra 1 loạt: chè vốn là trà, buồng là phòng, tuổi là tuế, tết là tiết, rồng là long, c.h.é.m là trảm, muộn là vãn, ngay đến chữ "chữ" cũng là mượn từ chữ tự [6]. Hóa ra uống chè, ăn tết, xem tuổi đều là đồ mượn của Tàu cả.
Có điều cách ghép từ thì khác. Nguyễn Đức Dân chỉ ra rằng trong từ Hán Việt "yếu tố chính đứng sau, yếu tố phụ đứng trước. Điều này trái ngược với cách cấu tạo từ theo ngữ pháp tiếng Việt". Cùng 1 ý, nói theo lối Hán Việt là điện năng, dân số, còn nói theo lối Việt là năng lượng điện, số dân [8].
Năm 1374, vua Trần còn xuống chiếu "cho quân và dân không được mặc áo, chải đầu theo người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm, Lào" [9]. Xin lưu ý là chiếu ấy cấm bắt chước tiếng Chiêm, tiếng Lào, còn tiếng Tàu thì không thấy nhắc đến. Không biết vì tiếng Tàu chẳng ai buồn bắt chước, hay vì bắt chước tiếng Tàu thì không ai cấm?
Trần Trọng Kim tổng kết rằng hết thời Bắc thuộc, người Giao Châu "có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với nước Tàu. Duy chỉ có sự sùng tín, sự học vấn, cách cai trị thì bao giờ mình cũng chịu cái ảnh hưởng của Tàu" [10].
III NGƯỜI TÀU NGHE TA NÓI CÓ HIỂU KHÔNG?
Không hiểu, mà từ xưa đã không hiểu rồi.
An Nam chí lược của Lê Tắc, viết vào đầu thế kỷ 14, chép tích họ Việt Thường đời Chu Thành Vương sang cống phải "qua chín lần thông ngôn" mới tới được nhà Chu [11]. Trần Trọng Kim cũng dẫn sử Tàu, rằng nhà Chu "phải tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng" [12].
Chuyện Việt Thường là truyền thuyết, có điều người Tàu chép chuyện ấy thì tức là từ rất sớm họ đã coi tiếng phương Nam là 1 thứ tiếng phải có người phiên dịch. Nói theo lối bây giờ, tiếng ta với người Tàu là 1 thứ "ngoại ngữ".
Đến đời Trần thì sử chép hẳn ra. Lệ cũ khi sứ nhà Nguyên sang là "phải sai người biết tiếng để phiên dịch, tể tướng không được nói chuyện trực tiếp với họ, sợ lỡ có sai sót gì thì đổ lỗi cho người phiên dịch". Tức là có gì sai thì đã có ông phiên dịch đứng ra chịu, ông tể tướng vẫn sạch sẽ. Cái nghề đổ lỗi cho cấp dưới hóa ra có từ thời Trần.
Riêng Trần Nhật Duật thì không theo lệ ấy, tiếp sứ Nguyên ông nói chuyện thẳng, chẳng mượn người dịch, nói giỏi đến mức sứ Nguyên phải hỏi lại: "ông là người Chân Định tới làm quan ở đây chớ gì?" [13]. Người biết tiếng phương Bắc mà sử phải chép riêng ra như 1 tài lạ, thì đủ biết quan lại thường chẳng mấy ai biết.
Đời Lê cũng vậy. Năm 1510, vua Lê sai 2 đoàn sứ sang nhà Minh, đoàn nào cũng có 1 người làm thông sự, tức là thông ngôn, đi theo: đoàn thứ nhất có Thông sự Nguyễn Phong, đoàn thứ 2 có Thông sự Nguyễn Hảo [14].
Các ông sứ thần đều là người đỗ đạt, đọc thông viết thạo chữ Hán, vậy mà sang tới kinh đô nhà Minh vẫn phải mang theo người phiên dịch! Khác gì bây giờ nhiều ông TS đọc paper tiếng Anh vèo vèo, sang Mỹ hội thảo vẫn phải kè kè cô phiên dịch.
Vì sao vậy? Là vì người mình đọc chữ Hán theo cách của người mình. Lê Xuân Thái, dẫn nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, giải thích rằng thời Bắc thuộc tiếng Hán ở Giao Châu như 1 thứ tiếng địa phương của Tàu, bên kia đổi thì bên này đổi theo. Sang thế kỷ 10 ta độc lập, tiếng Hán ở đây "hoàn toàn đã cách li khỏi tiếng Hán ở bên kia biên giới".
Bên Tàu trải qua Nguyên, Minh, Thanh, cách nói vẫn đổi mãi, còn ta thì giữ cái gốc đọc từ thời Đường rồi uốn theo giọng Việt, thành ra cách đọc Hán Việt. Ông định nghĩa cách đọc Hán Việt là "cách đọc chữ Hán của người Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường, chịu sự chi phối của hệ thống ngữ âm tiếng Việt" [6].
Lấy 1 ví dụ quen thuộc: tên kinh đô nước Tàu ta đọc là Bắc Kinh, người Tàu bây giờ đọc là Běijīng. Ta đọc quốc gia, họ đọc guójiā. Cùng 1 mặt chữ mà 2 bên đọc lên thì nghe như 2 thứ tiếng khác nhau.
Có điều viết ra giấy thì 2 bên lại hiểu nhau. Lê Xuân Thái nói cái lợi của chữ Hán là "các địa phương tuy đọc khác nhau, nói khác nhau nhưng đọc các văn bản thì có thể hiểu nhau" [6].
Năm 1597, Phùng Khắc Khoan đi sứ nhà Minh, gặp tiết mừng thọ vua Minh, dâng 30 bài thơ. Vua Minh khen, cho khắc in, rồi sứ Triều Tiên là Lý Toái Quang viết bài tựa cho tập thơ ấy [15]. 1 ông người Việt, 1 ông người Triều Tiên, tôi đoán là chẳng ai nói được tiếng của ai, mà vẫn đọc thơ nhau, viết tựa cho nhau, bởi cả 2 cùng viết chữ Hán.
Thì đấy, chữ Hán lúc ấy, nói theo lối bây giờ, là 1 thứ "ngôn ngữ chung" trên giấy của cả nước Tàu, nước ta lẫn Triều Tiên.
Còn ta nghe người Tàu nói thì cũng như họ nghe ta, tức là không hiểu, trừ những người chịu khó học tiếng của họ như ông Trần Nhật Duật hay mấy ông thông sự.
IV CHỮ NHO CÓ PHẢI CHỮ HÁN KHÔNG? CÓ TIẾNG HÁN, TIẾNG NÔM KHÔNG?
Nói cho chính xác, chữ Nho chính là chữ Hán, 2 tên gọi cho cùng 1 thứ chữ. Gọi là chữ Hán vì nó là chữ của người Hán. Gọi là chữ Nho vì ở ta, ai học thứ chữ ấy cũng là học sách của nhà Nho để đi thi. Dương Quảng Hàm viết trong cùng 1 chương, đoạn trên nói "việc học chữ Nho", đoạn dưới nói "việc học chữ Hán", coi như là 1 [16].
Ông Dương còn nói mục đích của việc học chữ Nho ngày xưa "không những là học chữ Nho thông hiểu văn tự, mà thứ nhất là học cương thường đại nghĩa" [17]. Học chữ cũng là học đạo, cho nên dân gian mới quen gọi là chữ Nho.
Còn có tiếng Hán, tiếng Nôm không? Về tiếng nói, người mình nói tiếng Việt, sách cũ gọi bằng nhiều tên: tiếng Nam, quốc âm, có khi gọi là quốc ngữ.
Xin lưu ý là chữ "quốc ngữ" trong Toàn thư không phải là thứ chữ La tinh ta đang dùng. Toàn thư chép Hàn Thuyên "giỏi làm thơ phú quốc ngữ" [18], chép Hồ Quý Ly làm sách "Quốc ngữ Thi nghĩa", người dịch phải chú thích thêm rằng đó là giải thích Kinh Thi "bằng quốc ngữ hay dịch Kinh Thi ra quốc ngữ (chữ Nôm)" [19].
Nghĩa là quốc ngữ thời ấy là tiếng nước mình. Đọc sử mà không biết điều này thì dễ tưởng Hàn Thuyên làm thơ bằng thứ chữ quốc ngữ như ta bây giờ!
Chữ viết thì có 2 thứ: chữ Hán để viết văn Hán và chữ Nôm để ghi lại tiếng Việt. Văn viết bằng chữ Hán là Hán văn, văn viết bằng chữ Nôm là văn Nôm. Còn tiếng Hán thì với các cụ là 1 thứ tiếng chỉ nằm trên giấy, đọc lên bằng giọng Hán Việt, chẳng giống tiếng người Tàu nói ngoài đường chút nào.
Dương Quảng Hàm còn viết rằng tiếng Nam "không được Triều đình săn sóc đến, lại nhiều khi bị phái nhà Nho khinh bỉ coi là nôm na mách qué" [20]. Tiếng mẹ đẻ mà bị chính người có học coi là "nôm na mách qué", kể cũng thật trớ trêu!
V CHỮ NÔM AI NGHĨ RA, NGHĨ RA ĐỂ LÀM GÌ?
Trước khi bị đô hộ, ta có chữ riêng không? Dương Quảng Hàm trả lời rằng "hiện nay không thể giải quyết được, vì không có di tích, tài liệu mà khảo cứu" [16].
Chữ Nôm thì chắc chắn có người đặt ra mà không biết là ai. Nhiều người đọc sử thấy Hàn Thuyên làm thơ Nôm đời Trần thì tưởng ông đặt ra chữ Nôm. Dương Quảng Hàm bảo đó là "một sự sai lầm, vì Sử chỉ ghi việc ông làm thơ phú bằng tiếng nôm, chứ không hề nói ông đã đặt ra chữ nôm".
Ông chỉ nhận 2 điều là chắc. Thứ nhất là cái hiệu Bố Cái năm 791, đã lấy 2 tiếng Nam để đặt hiệu cho 1 vị chúa thì "có lẽ phải có chữ để viết hai tiếng ấy", tức là chữ Nôm có lẽ có từ cuối thế kỷ 8. Thứ 2 là tấm bia năm 1343 ở núi Hộ Thành, Ninh Bình, khắc 20 tên làng bằng chữ Nôm, ông gọi đó là "cái tự tích chắc chắn về chữ nôm còn truyền lại đến giờ" [21].
Theo tôi, chữ Nôm không phải do 1 người nghĩ ra trong 1 ngày. Tên làng, tên người, tên núi, tên sông bằng tiếng Việt cần ghi vào sổ, khắc vào bia, ông thư lại biết chữ Hán thì mượn chữ Hán có âm na ná mà ghi, chỗ nào chưa đủ thì ghép thêm, dần dần mới thành 1 lối chữ.
Cách đặt chữ Nôm, theo Dương Quảng Hàm, có 3 lối. Lối thứ nhất là mượn nguyên chữ Hán. Tiếng nào vốn gốc Hán thì viết y nguyên, như tài, mệnh. Tiếng nào đồng âm thì mượn âm, như tiếng "một" viết bằng chữ một (nghĩa là mất). Có tiếng thì mượn nghĩa, như chữ vị đọc thành "mùi", chữ dịch đọc thành "việc".
Lối thứ 2 là ghép 2 chữ Hán lại, 1 phần chỉ nghĩa, 1 phần chỉ âm: chữ "năm" ghép chữ nam để lấy âm với 1 chữ nghĩa là năm để lấy nghĩa, chữ "nói" ghép bộ khẩu (cái miệng) với chữ nội để lấy âm. Lối thứ 3 là ghép 1 chữ Hán với 1 chữ Nôm có sẵn, như chữ "lời" ghép bộ khẩu với chữ Nôm "trời" [21].
Còn đặt ra để làm gì thì ông Dương viết: khi các học giả "muốn làm thơ văn bằng tiếng Nam, vì không có chữ Việt, phải đặt ra một thứ chữ để viết tiếng" [21]. Chữ Hán viết được Hán văn nhưng không ghi được 1 câu ca dao, không ghi được tên cái gò, cái đồng của làng. Muốn ghi cho đúng lời người Việt nói thì phải có chữ Nôm.
Phải thấy rằng chữ Nôm làm bằng những mảnh của chữ Hán, cho nên muốn đọc chữ Nôm thì phải biết chữ Hán trước. Tức là học 1 thứ chữ đã khó, muốn viết tiếng mẹ đẻ lại phải học thêm 1 thứ nữa.
Mà biết rồi đọc vẫn khó. Dương Quảng Hàm kể khuyết điểm của nó: 1 chữ có khi đọc 2 cách, như chữ bản trong Truyện Kiều có câu đọc là "vốn", có câu đọc là "bản". 1 tiếng lại có khi viết 2, 3 kiểu. Tiếng Việt có những âm G, R, những vần au, eo, en, on mà chữ Hán không có, lại nhiều thanh hơn, nên nhiều khi phải mượn chữ na ná. Đọc 1 bài văn Nôm "nhiều khi phải xem cả toàn thiên hoặc cả câu mà đoán" [21].
VI CÓ CHỮ NÔM RỒI, SAO TRIỀU ĐÌNH VẪN VIẾT CHỮ NHO?
Dương Quảng Hàm viết rằng từ năm 939 cho đến khi người Pháp sang, "triều đình vẫn lấy chữ Nho làm quốc gia văn tự: các luật lệ, dụ chỉ của nhà vua, công văn, án từ của các quan, việc học, việc thi, đều dùng chữ Nho cả. Trong dân gian, các khế ước, chúc thư, khoán lệ, sổ sách cũng dùng chữ nho" [16].
Tuy vậy, đời Trần, năm 1282, Hàn Thuyên làm văn đuổi cá sấu, Toàn thư chép thêm: "thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy" [18]. Năm 1306, vua gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, văn sĩ trong triều ngoài nội "mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm thơ, từ bằng quốc ngữ để châm biếm việc đó" [22]. Hóa ra thơ Nôm thời ấy đã dùng để "cà khịa" chuyện của vua rồi.
Hồ Quý Ly thì dùng hẳn chữ Nôm để dạy vua. Năm 1395, ông dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư "ra quốc ngữ để dạy Quan gia", tức là dạy ông vua nhỏ. Năm 1396, ông làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa, "sai nữ sư dạy hậu phi và cung nhân học tập", bài tựa thì "phần nhiều theo ý mình, không theo tập truyện của Chu Tử" [19].
Năm 1437, vua Lê Thái Tông muốn xem thơ văn họ Hồ, Nguyễn Trãi sưu tầm được "vài chục bài thơ, văn bằng quốc ngữ" [23]. Người dịch Toàn thư chú thích rằng thơ văn Nôm của họ Hồ "hiện nay chưa tìm lại được" [23].
Vua Lê Thánh Tông thì rành luật thơ Nôm đến mức bắt bẻ cả quan làm sai luật. Năm 1463, ông sắc dụ cho Lương Như Hộc: "ta xem Hồng Châu quốc ngữ thi tập của ngươi còn nhiều chỗ thất luật" [24]. Sếp soát lỗi thơ của cấp dưới đến từng chữ thế này thì quan cũng mệt phết.
Năm 1471 đi đ.á.n.h Chiêm Thành, vua soạn Bình Chiêm sách, lại "sợ rằng tướng sĩ chưa hiểu, sai Chỉ huy Nguyễn Thế Mỹ dịch ra quốc ngữ để nhắc lại" [24]. Tức là văn bản chính thì vẫn chữ Hán, đến lúc cần lính hiểu thì mới dịch ra tiếng ta.
Năm 1627, Trịnh Tráng mượn danh vua Lê đòi chúa Nguyễn nộp thuế, tờ sắc gửi vào Thuận Hóa làm bằng chữ Nôm [25].
Nhà Tây Sơn thì theo Trần Trọng Kim, "việc cai trị thường hay dùng chữ nôm", thi cử "thường bắt quan ra bài chữ nôm và bắt sĩ tử làm bài bằng chữ nôm", có điều thời ấy "nhiều người không hiểu rõ cái ý nghĩa sâu xa ấy, cho là vua Tây Sơn dùng hà chính mà ức hiếp nhân dân" [26]. Ô! Vua bắt làm bài bằng tiếng mẹ đẻ mà sĩ tử lại kêu là hà chính! Học chữ Hán mười mấy năm, giờ bắt thi bằng chữ Nôm thì kêu là phải.
Năm 1800, Nguyễn Ánh duyệt binh ở Gia Định cũng ra 1 đạo dụ bằng tiếng Nôm, vì theo Dương Quảng Hàm, bấy giờ loạn lạc, việc học chữ Nho bỏ bễ đã lâu, mà "các tướng tá, quân nhân cũng ít người biết chữ nên phải dùng tiếng Nôm cho tiện" [16]. Vua Tự Đức thì soạn sách chữ Nôm "để dạy dân cho dễ hiểu, như là sách Thập Điều, Tự Học Diễn Ca, Luận Ngữ Diễn Ca" [27].
Như ta thấy, hễ cần nói với người không đọc được chữ Hán thì người ta mới dùng chữ Nôm, như với ông vua còn nhỏ, đàn bà trong cung, lính tráng, dân thường. Còn luật lệ, sổ sách, thi cử thì vẫn là chữ Hán. 2 triều làm mạnh tay nhất là nhà Hồ với nhà Tây Sơn, mà cả 2 đều ngắn ngủi, nhà Hồ được 7 năm, nhà Tây Sơn chưa tới 30 năm.
Vì sao chữ Nôm không thành chữ chính thức? Dương Quảng Hàm cho rằng tại nó "không được triều đình công nhận, nên không được sửa đổi cho thành hẳn quy củ nhất định, mỗi người mỗi ý". Ông tiếc rằng giá có người hiểu âm vận đứng ra quy định lại, soạn 1 cuốn tự vị cho ai cũng theo đó mà viết mà đọc, thì chữ Nôm cũng thành văn tự hoàn toàn được, chẳng khác gì chữ Hòa văn của Nhật Bản [21].
Mỗi người viết 1 kiểu thì cũng giống thời font chữ VNI, TCVN3 trước khi có Unicode, mở file của người khác ra toàn ký tự loằng ngoằng, phải đoán.
Tôi nghĩ, muốn làm quan thì phải thi, mà thi thì bằng chữ Hán. Học trò bỏ ra 10, 20 năm dùi mài chữ Hán, đến lúc đỗ đạt thì chữ Nôm chỉ còn là thứ viết thêm lúc ngâm vịnh, chẳng ai đỗ được nhờ chữ Nôm cả. Chẳng ai dùng chữ Nôm vào giấy tờ nhà nước nên cũng chẳng ai đứng ra sửa sang cho nó có phép tắc, mỗi người viết 1 kiểu, mà mỗi người viết 1 kiểu thì lại càng không đem vào giấy tờ nhà nước được.
Nhà Minh sang thì còn lấy sách của ta đi. Năm 1418, thời thuộc Minh, nhà Minh sai Hạ Thanh, Hạ Thì sang "thu lấy lại các loại sách ghi chép về sự tích xưa nay của nước ta". Năm 1419, nhà Minh lại ban Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý đại toàn xuống cho nho học các phủ, châu, huyện [28].
VII CÁC CỤ NGÀY XƯA BIẾT NHỮNG CHỮ GÌ?
Phần đông các cụ không biết chữ nào cả. Phan Kế Bính tả cách bầu lý trưởng thời ông: dân làng họp ở đình, "kén chọn lấy một người có gia tư vật lực và là người biết chữ" [29].
Biết chữ mà được kể ra như 1 điều kiện để làm lý trưởng, thì tôi đoán trong làng chẳng mấy người biết chữ. Đến lúc có đám mừng đám phúng, ai cũng muốn có câu đối, "người không biết chữ cũng đi mượn người khác làm đỡ cho" [30].
Người được đi học thì học chữ Nho trước. Sách vỡ lòng như Tam thiên tự dạy chữ Hán kèm luôn nghĩa tiếng Việt, đọc vần vè cho dễ thuộc: "thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước" [17]. Thì đấy, ngay từ buổi học đầu tiên, thầy đã giảng chữ Hán bằng tiếng Việt.
Người có học thì biết chữ Nho, đọc được cả chữ Nôm. Người học ít thì biết dăm chữ để làm việc nhà. Phan Kế Bính nói con gái nếu được cho đi học thì cũng chỉ "đủ biên sổ sách và biết tính toán mà thôi" [7]. Đàn bà trong cung đời Hồ thì được nữ sư dạy Kinh Thi bằng quốc ngữ [19].
Giấy tờ trong làng cũng có cái viết bằng chữ Nôm, như bản điều ước nghĩa sương (kho thóc để dành phòng năm đói kém) mà Phan Kế Bính chép lại, có câu: "bản viết bằng chữ nôm có cả dân xã ký kết, lý trưởng áp triện" [31].
Các giáo sĩ phương Tây sang giảng đạo cũng dùng chữ Nôm. Đỗ Quang Chính kể năm 1620, các tu sĩ Dòng Tên ở Hội An đã soạn 1 sách giáo lý bằng "chữ Đàng Trong tức là chữ Nôm". Năm 1645, 1 văn bản của giáo hội ghi tên 14 giáo dân Việt Nam bằng 3 thứ chữ: Nôm, quốc ngữ và La tinh [3].
Tôi nghĩ người không biết chữ vẫn thuộc được văn Nôm, vì văn Nôm làm ra là để đọc to lên, ngâm lên cho cả nhà cùng nghe. Lê Xuân Thái nói nhờ có chữ Nôm mà còn giữ được thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm [6]. Nhiều bà cụ không biết mặt chữ mà vẫn lẩy được Kiều là vì thế.
Tóm lại, ai cũng nói tiếng Việt. Người có học biết chữ Nho và chữ Nôm, người học ít biết dăm chữ Nho, chữ Nôm để ghi chép, còn phần đông thì không biết chữ nào. Từ thế kỷ 17, giáo dân có thêm chữ quốc ngữ.
VIII RỒI CHỮ QUỐC NGỮ THAY CẢ 2
Trần Trọng Kim viết: "nguyên người nước ta tự xưa tuy có tiếng nói riêng mà không có chữ viết. Học hành, văn chương, án từ, việc gì cũng làm bằng Hán tự cả. Từ đời nhà Trần về sau đã có người dùng Hán Tự mà đặt ra chữ Nôm để viết tiếng Quốc Ngữ. Nhưng mà những nhà văn học không hay dùng đến chữ nôm". Đến cuối đời Lê, giáo sĩ Bồ Đào Nha sang giảng đạo, "thấy hán tự khó học và không mấy người hiểu, mới mượn chữ La Tinh mà đặt ra chữ quốc ngữ" [32].
Năm 1884, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập vua Hàm Nghi mà không báo cho người Pháp. Quân Pháp kéo vào Huế, bắt triều đình phải làm giấy xin phép. Tường và Thuyết "làm tờ xin phép bằng chữ nôm gửi sang bên Khâm sứ. Viên Khâm sứ không nghe, bắt phải làm bằng chữ nho" [33].
Ô! Người Pháp lúc ấy vẫn coi chữ Nho mới là chữ của giấy tờ nhà nước! Ông Tây còn đòi đúng "thể thức văn bản" hơn cả quan ta.
Rồi cũng chính người Pháp đổi lại. Năm 1906, chính phủ bảo hộ cải lương phép thi. Thi Hương bỏ kinh nghĩa, kỳ thứ nhất làm văn sách, kỳ thứ 2 làm luận chữ Nho, kỳ thứ 3 làm "một bài luận quốc ngữ và dịch một bài chữ Pháp ra quốc ngữ" [34]. Từ đấy người học chữ Hán ít dần, người đọc được chữ Nôm cũng ít theo, vì muốn đọc chữ Nôm thì phải biết chữ Hán.
Phan Kế Bính, viết vào khoảng ấy, có 1 câu: "trong ba xứ vốn đã nói chung một thứ tiếng, lại học theo một chữ nho, từ khi các ông cố đạo đặt ra chữ quốc ngữ thì lại dùng chung một lối chữ" [35].
Đọc lại mấy cuốn
ách cũ, tôi chỉ thấy chuyện tiếng nói, chữ viết của ông cha mình rắc rối hơn mình vẫn nghĩ nhiều.
Từ đời Phùng Hưng đến nay, ta đã viết bằng 3 thứ chữ: chữ Hán, chữ Nôm, rồi chữ quốc ngữ. Câu "tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái" sử thần chép bằng chữ Hán, nay ta đọc bằng chữ quốc ngữ, còn chữ Nôm thì bây giờ mấy ai đọc được…
Nguồn:
[1] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, kỷ thuộc Tùy Đường, năm Tân Mùi (791).
[2] - Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt - Mai Ngọc Chừ (chủ biên), phần phân loại ngôn ngữ theo cội nguồn.
[3] - Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659 - Đỗ Quang Chính, phần nói về sách giáo lý năm 1620, tài liệu năm 1645 và thư mục.
[4] - Tự điển chữ Nôm trích dẫn - Viện Việt Học (2009), Phàm lệ.
[5] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, kỷ thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, năm Tân Hợi (231), sớ của Tiết Tống.
[6] - Từ Hán Việt và việc giảng dạy từ Hán Việt - Lê Xuân Thái, mục I Sự hình thành từ ngữ Hán Việt trong từ vựng tiếng Việt.
[7] - Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, thiên thứ nhất, chương I Cha mẹ với con.
[8] - Tiếng Việt (dùng cho đại học đại cương) - Nguyễn Đức Dân, phần những lỗi liên quan tới từ Hán Việt.
[9] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Long Khánh thứ 2 (1374).
[10] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần II chương 6 Kết quả của thời Bắc thuộc.
[11] - An Nam chí lược - Lê Tắc, phần mở đầu.
[12] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần I chương 1 Họ Hồng Bàng.
[13] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Khai Hựu thứ 2 (1330), đoạn chép về Trần Nhật Duật.
[14] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Tương Dực, năm Hồng Thuận thứ 2 (1510).
[15] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thế Tông, năm Quang Hưng thứ 20 (1597).
[16] - Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm, chương VII Việc dùng chữ Nho làm quốc gia văn tự, cách tổ chức việc học, và bài đọc thêm số 1.
[17] - Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm, chương II Văn chương cổ điển, việc học chữ Nho.
[18] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Thiệu Bảo thứ 4 (1282).
[19] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Quang Thái thứ 8 (1395) và thứ 9 (1396), cùng chú thích của người dịch.
[20] - Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm, chương dẫn đầu.
[21] - Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm, chương XI Chữ Nôm và chương XII Hàn Thuyên và các nhà mô phỏng ông.
[22] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Hưng Long thứ 14 (1306).
[23] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thái Tông, năm Thiệu Bình thứ 4 (1437), cùng chú thích của người dịch.
[24] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 4 (1463) và năm Hồng Đức thứ 2 (1471).
[25] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần IV chương 4 Sự chiến tranh.
[26] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần IV chương 11 Nhà Nguyễn Tây Sơn, mục Việc học hành.
[27] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần V chương 5 Dực Tông.
[28] - Đại Việt sử ký toàn thư, năm Mậu Tuất (1418) và năm Kỷ Hợi (1419).
[29] - Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, thiên thứ nhì, chương XVIII Bầu cử lý dịch.
[30] - Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, thiên thứ nhì, chương XXVI Lệ khánh điếu.
[31] - Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, thiên thứ nhì, chương XXIX Nghĩa sương.
[32] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần V chương 7 Nước Pháp lấy đất Nam Kỳ, lời chú về chữ quốc ngữ.
[33] - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, phần V chương 12 Cuộc bảo hộ của nước Pháp.
[34] - Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, thiên thứ ba, chương XIV Khoa cử.
[35] - Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính, thiên thứ ba, chương XXIV Thanh âm ngôn ngữ.
Bình Luận Bài Viết