HÀNH TRẠNG
CỦA ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH HUYỀN TÔN
Bài viết của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Có những bậc Tôn túc, sự hiện diện của các Ngài giữa cuộc đời không chỉ được tính bằng năm tháng, mà còn được ghi dấu bằng cả một đời tận tụy phụng sự Đạo pháp, dân tộc và đàn hậu học. Mỗi bước chân hoằng hóa, mỗi trang kinh được dịch, mỗi lời giáo huấn được trao truyền, mỗi công trình văn hóa được âm thầm vun bồi đều trở thành những dấu son lặng lẽ mà bền lâu trong dòng chảy của Phật giáo Việt Nam.
Sáng thứ Tư, ngày 2 tháng 9 năm 2026, khi Bác sĩ Giác Nghĩa Phạm Phúc Nhân báo tin Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn vừa trải qua một cơn nguy kịch, phải vào Bệnh viện Sunshine cấp cứu vì khó thở, lòng con không khỏi bàng hoàng và lo lắng. Con lập tức báo tin đến Hòa thượng Viện Chủ Tu viện Quảng Đức Thích Thông Mẫn (Tâm Phương), rồi gọi điện cho Ni Sư Thể Viên để hỏi thăm bệnh tình của Ngài. Ni Sư cho biết Hòa Thượng đã tạm qua cơn nguy hiểm và hoan hỷ chuyển điện thoại để con được trực tiếp hầu thăm Ngài đôi lời. Nghe giọng Hòa Thượng tuy còn yếu nhưng vẫn tỉnh táo, Ngài ân cần cảm ơn rằng ở phương xa mà con vẫn nhớ đến Ngài, rồi lại nhẹ nhàng nói chỉ mong sớm được trở về chùa tĩnh dưỡng, chứ không muốn lưu lại bệnh viện lâu ngày. Chỉ vài lời ngắn ngủi ấy thôi cũng khiến lòng con vô cùng xúc động.
Khi biết Hòa Thượng đã tỉnh táo và sức khỏe tạm thời ổn định, trong con dâng lên một niềm vui khó diễn tả, xen lẫn lòng biết ơn và kính thương sâu xa. Bởi chỉ còn ít tháng nữa, Ngài sẽ tiến gần đến cột mốc một thế kỷ hiện hữu giữa cuộc đời, gần một trăm năm đi qua biết bao biến thiên của thời cuộc, bao thăng trầm của quê hương và Đạo pháp; đồng thời cũng là gần trọn một thế kỷ của một đời xuất trần thượng sĩ, hoằng dương Chánh pháp và phụng sự chúng sinh không ngừng nghỉ. Ở tuổi đại thọ ấy, mỗi ngày Ngài còn hiện diện giữa Tăng Ni và Phật tử đã là một phước duyên quý báu; mỗi lời chỉ dạy, mỗi trang sách, mỗi ký ức và kinh nghiệm của Ngài đều trở thành những tư liệu sống vô cùng trân quý đối với hàng hậu học chúng con.
Đối với riêng con, được có duyên thân cận, học hỏi và chứng kiến phần nào cuộc đời hành đạo của Hòa thượng trong ba thập niên qua, là một phước duyên rất lớn. Càng nhìn lại những gì Ngài đã âm thầm thực hiện trong suốt nhiều thập niên, con càng cảm nhận sâu sắc rằng một đời người rồi sẽ hữu hạn, nhưng đạo nghiệp, văn nghiệp và tấm gương của một bậc đại lão Hòa Thượng thì còn ở lại rất lâu trong lòng người hậu thế.
Nhân lúc lòng còn chan chứa niềm xúc động sau khi nhận tin về sức khỏe của Ngài, con xin kính lược ghi đôi nét về cuộc đời và hành trạng của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, như một lời thành kính tri ân đối với bậc Tôn túc mà con hằng kính ngưỡng, đồng thời để chư Tôn đức, hàng hậu học, quý Phật tử và đại chúng gần xa có thêm cơ duyên hiểu biết về một bậc Trưởng lão đã dành gần trọn một thế kỷ cho sự nghiệp tu học, giáo dục, hoằng dương Chánh pháp và phụng sự Đạo pháp, dân tộc.
Đại Lão Hòa Thượng đạo hiệu Thích Huyền Tôn, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, sinh năm Mậu Thìn (1928) tại Quảng Ngãi, Việt Nam. Ngài xuất gia từ thuở thiếu thời, vào năm Giáp Tuất (1934); thọ giới Sa-di năm Tân Tỵ (1941) và thọ Cụ túc giới năm Đinh Hợi (1947). Trên con đường tu học, Ngài từng theo học tại các Phật học đường Tây Thiên và Viên Giác vào năm Mậu Tuất (1958); đến năm Canh Tý (1960), Ngài tốt nghiệp Cử nhân Hán học thuộc Bộ Giáo dục Quốc gia Việt Nam.
Với sở học uyên thâm cả về Phật học, Hán học và Việt văn, Hòa Thượng đã nhiều năm tận tụy với sự nghiệp giáo dục. Ngài từng đảm nhiệm vai trò Giáo sư Phật học tại Phật học đường Bảo Lâm ở Mỹ Khê, Quảng Ngãi; Phật học đường Kim Liên tại Tịnh Giang, Quảng Ngãi; Phật học đường Quang Minh tại Sài Gòn; đồng thời giảng dạy Việt văn tại Trường Trung học Bồ Đề, Sài Gòn. Từ năm 1967 đến 1972, Ngài giữ chức Quyền Chánh Đại Diện Phật Giáo tỉnh Gia Định, góp phần gánh vác nhiều Phật sự quan trọng trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước.
Năm Canh Thân (1980), Hòa Thượng lên đường vượt biển tìm tự do và định cư tại Melbourne, Úc Đại Lợi. Tại vùng đất mới, Ngài tiếp tục đem hết tâm lực phụng sự Đạo pháp, sáng lập Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự. Năm Tân Dậu (1981), Ngài là một trong những vị sáng lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Victoria. Đến năm Giáp Tý (1983), Ngài cùng chư Tôn đức tiếp tục góp phần thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Châu-Tân Tây Lan, đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển và sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu.
Song song với công tác Giáo hội, Hòa Thượng còn dành nhiều tâm huyết cho văn hóa, báo chí và công cuộc hoằng pháp. Ngài từng làm Chủ bút báo Phật Giáo Việt Nam Úc Châu từ năm 1984 đến 1989; đảm nhiệm chức vụ Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo từ năm 1983 đến 1992; và từ năm 1999, Ngài đảm nhận trọng trách Tăng Giáo Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan.
Nhìn lại chặng đường ấy, từ một chú tiểu xuất gia khi tuổi đời còn rất nhỏ nơi quê nhà Quảng Ngãi, trải qua nhiều thập niên tu học, giáo dục, hoằng pháp và phụng sự Giáo hội, cho đến khi đặt chân lên đất Úc và tiếp tục dựng xây nền móng Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại, cuộc đời Hòa Thượng là một hành trình dài của giới đức, học vấn, sự tận tụy và tinh thần phụng sự không mệt mỏi.
Trong thời gian phụ trách giảng dạy môn Việt văn tại các Trường Trung học Bồ Đề ở Sài Gòn, bên cạnh công việc giáo dục, Hòa Thượng còn dành nhiều tâm huyết cho văn chương và báo chí. Ngài viết truyện, làm thơ, viết khảo luận và cộng tác với nhiều tờ báo đương thời như Trắng Đen, Tin Sớm, Tiền Tuyến, Thông Tin, Đặc San Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo… qua hai bút hiệu Hạo Gia và Lĩnh Nam. Qua những trang viết ấy, có thể thấy nơi Hòa Thượng không chỉ là phẩm chất của một nhà tu hành và nhà giáo dục, mà còn là tâm hồn của một người cầm bút luôn thao thức trước vận mệnh quê hương, văn hóa dân tộc và sự trường tồn của Đạo pháp.
Sau chuyến vượt biên đầy gian khổ và định cư tại Úc Châu vào năm 1980, mặc dù phải bắt đầu lại cuộc sống nơi xứ người và gánh vác nhiều Phật sự, Hòa Thượng vẫn dành rất nhiều thời gian cho việc đọc sách, sưu tầm, khảo cứu và ghi chép. Chính trong những năm tháng ấy, một công trình mà Ngài đã ấp ủ từ lâu dần hình thành: bộ sách đồ sộ “5.000 Năm Việt Lịch”.
Có thể nói đây là một công trình đặc biệt trong sự nghiệp trước tác của Hòa Thượng. Ngài vốn có niềm say mê sâu sắc đối với lịch sử, nhất là lịch sử Việt Nam; lại có thói quen cẩn trọng ghi chép, lưu giữ và đối chiếu các tư liệu qua nhiều nguồn khác nhau. Từ đó, Ngài nuôi dưỡng một tâm nguyện rất tha thiết: gìn giữ Việt lịch và giúp người Việt, dù sống ở quê nhà hay nơi hải ngoại, ý thức rõ hơn về chiều dài lịch sử của dân tộc, để con cháu Lạc Hồng biết mình từ đâu mà đến và thêm trân quý, tự hào về cội nguồn tổ tiên.
Theo cách tính được trình bày trong công trình của Hòa Thượng, chẳng hạn năm 2016 Tây lịch tương ứng với năm 4895 Việt lịch. Một con số tưởng chừng đơn giản, nhưng phía sau đó là cả một hệ thống khảo cứu và đối chiếu công phu trải dài hàng nghìn năm lịch sử.
Trong bộ “5.000 Năm Việt Lịch”, Hòa Thượng đã lần theo chiều dài lịch sử dân tộc từ những thời đại xa xưa như Văn Lang, Âu Lạc, Hồng Bàng, các đời Hùng Vương, rồi tiếp nối qua thời Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh, Lê, Lý, Trần… Không chỉ ghi chép lịch sử Việt Nam theo trình tự thời gian, Ngài còn đặt các niên đại ấy trong sự đối chiếu với Phật lịch, âm lịch, Tây lịch, cũng như những biến cố và nhân vật quan trọng của lịch sử Phật giáo và lịch sử thế giới.
Theo sự khảo định của Hòa Thượng, năm thứ nhất của Việt lịch khởi đầu vào đời Kinh Dương Vương, năm Giáp Tuất, tức 2.255 năm trước khi Đức Phật đản sinh. Từ điểm khởi đầu ấy, Ngài tính liên tục cho đến năm thứ 5.000 của Việt lịch, tương ứng với năm 2121 Tây lịch, năm Tân Tỵ; lúc ấy Phật đản là 2745 và Phật lịch là 2665.
Điểm đặc sắc của công trình này không chỉ nằm ở những con số, mà chính ở phương pháp đối chiếu đồng đại. Khi nhìn vào một niên đại, người đọc có thể biết trong cùng thời điểm ấy, tại Việt Nam đang ở triều đại nào, tại Trung Hoa là đời vua nào, và trong lịch sử Phật giáo thế giới đang diễn ra sự kiện gì. Nhờ vậy, những biến cố tưởng như rời rạc của nhiều nền lịch sử được đặt cạnh nhau, giúp người đọc có một cái nhìn rộng hơn về dòng chảy của thời gian.
Chẳng hạn: Đức Phật đản sinh vào năm 624 trước Tây lịch; theo sự đối chiếu của Hòa Thượng, năm ấy là Việt lịch 2255, âm lịch Đinh Dậu, vào thời Hùng Vương ở Việt Nam và thời Chu Tương Vương tại Trung Hoa.
Đức Phật nhập Niết-bàn năm 80 tuổi, tức năm 544 trước Tây lịch, âm lịch Bính Thìn, tương ứng Việt lịch 2335. Theo bảng đối chiếu của Hòa Thượng, vào thời điểm ấy Lão Tử 27 tuổi, Khổng Tử mới lên 6 tuổi, và Trung Hoa đang ở thời Chu Linh Vương.
Sau 16 năm gian khổ sang Ấn Độ cầu pháp và thỉnh kinh, Pháp sư Huyền Trang trở về Trường An vào năm 645 Tây lịch. Năm ấy, Lục Tổ Huệ Năng lên 8 tuổi, tương ứng Việt lịch 3524, âm lịch Ất Tỵ.
Chỉ qua vài thí dụ như thế cũng đủ thấy khối lượng công phu mà Hòa Thượng đã bỏ ra cho công trình này. Để một dòng niên đại xuất hiện trước mắt người đọc, phía sau đó là biết bao năm tháng đọc sách, tra cứu, so sánh, kiểm chứng và ghi chép từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau.
Vì thế, “5.000 Năm Việt Lịch” không đơn thuần chỉ là một bộ lịch. Đó còn là kết quả của một đời yêu lịch sử, yêu văn hóa dân tộc và đau đáu với việc gìn giữ căn cước Việt Nam của Hòa Thượng. Qua công trình ấy, Ngài mong muốn những thế hệ mai sau, đặc biệt là người Việt sống xa quê hương, vẫn có thể nhìn lại dòng lịch sử hàng nghìn năm của tổ tiên, biết rõ cội nguồn của mình và không để những dấu tích quý báu của tiền nhân bị phai mờ theo năm tháng.
Đối với riêng con, là người có nhiều năm nghiên cứu và viết về Phật giáo thế giới, mỗi lần đọc những bảng niên đại và sự đối chiếu công phu trong tác phẩm của Hòa Thượng, con vừa vui mừng vừa hết sức cảm động. Bởi con hiểu rằng để kết tinh thành những trang tư liệu ấy, Hòa Thượng đã phải trải qua biết bao ngày tháng thức khuya dậy sớm, kiên nhẫn lật từng trang sách, tra từng niên đại, đối chiếu từng sự kiện để lưu lại cho người sau.
Một đời người rồi cũng hữu hạn, nhưng những gì được viết xuống bằng trí tuệ, tâm huyết và tình yêu đối với Đạo pháp và dân tộc có thể còn ở lại rất lâu. Và con tin rằng “5.000 Năm Việt Lịch” chính là một trong những di sản như thế của Trưởng lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn dành lại cho các thế hệ mai sau.
Bản thân riêng con là người có nhiều năm nghiên cứu và viết về Phật giáo thế giới, nên mỗi lần đọc những dữ kiện được Hòa Thượng dày công sưu tầm và đối chiếu, con không khỏi vừa vui mừng, vừa xúc động sâu xa. Bởi con hiểu rằng phía sau từng con số, từng niên đại và từng chi tiết lịch sử ấy là biết bao tháng năm Hòa Thượng thức khuya dậy sớm, miệt mài đọc sách, tra cứu, so sánh và kiểm chứng từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, rồi mới cẩn trọng đúc kết thành những dữ kiện để lưu lại cho đời sau.
Quả thật, đây là một kho tư liệu hết sức quý báu. Nhờ công trình ấy, người đọc khi cần tra cứu có thể tìm thấy ngay những mốc thời gian và sự kiện liên quan mà không phải mất nhiều công sức lần giở qua hàng chục bộ sách, từ điển và tài liệu rời rạc. Giá trị của công trình không chỉ nằm ở tính tiện dụng trong việc khảo cứu, mà còn thể hiện rõ tấm lòng gìn giữ lịch sử, văn hóa dân tộc và kho tàng Phật học của Hòa Thượng. Công đức ấy, đối với nền văn hóa Phật giáo Việt Nam, thật khó có thể đo lường hết được.
Không chỉ để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực lịch sử và văn hóa, Hòa Thượng còn dành phần lớn cuộc đời cho công việc phiên dịch, trước tác và truyền trao kinh điển, giúp cho hàng Phật tử Việt Nam có thêm phương tiện học hỏi và hành trì. Những tác phẩm và bản kinh tiêu biểu mà Đức Tăng Giáo Trưởng đã lưu lại gồm có:
Chư Kinh Mật Giáo – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Kinh Vu Lan Bồn – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Kinh Bát Đại Nhơn Giác – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Ba Mươi Hai Tướng Tốt và Tám Mươi Vẻ Đẹp của Đức Phật – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Phương Pháp Cứu Độ Trung Ấm Thân – HT. Thích Huyền Tôn.
Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi – HT. Thích Huyền Tôn dịch.
Trong số những công trình ấy, đặc biệt phải kể đến “Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi”, được ấn hành lần đầu vào năm 2007. Đây là một công trình đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp dịch thuật của Hòa Thượng. Có thể xem đây là một trong những bản Việt dịch đầy đủ và công phu về khoa nghi Chẩn tế, Thí thực cô hồn, một nghi thức vốn hàm chứa nhiều lớp nghĩa sâu xa của Mật giáo, nghi lễ và văn học Phật giáo.
Điều đáng quý là khi đọc bản dịch, người ta gần như không còn cảm giác đang đọc một văn bản được chuyển dịch từ Hán văn. Nhờ vốn Hán học thâm hậu, sự am tường nghi lễ và đặc biệt là một bút pháp giàu nhạc tính, hình ảnh và chiều sâu tâm linh, Hòa Thượng đã chuyển tải được không chỉ ý nghĩa của nguyên văn mà còn cả thần thái, khí vị và chất văn của bản kinh.
Chẳng hạn, đoạn văn tán sau mười hai câu thỉnh trong Nghi Chẩn Tế Bạt Độ Âm Linh Cô Hồn, có câu: “Tự tùng khoáng kiếp, trực chí kim sanh, thích nghiệp chướng dĩ tiêu dung, tuyết tội khiên nhi thanh tịnh; hoạch thang dõng phất, biến thành bát đức chi liên trì; lô diệm giao huy, hóa tác thất trân chi hương cái. Kiếm thọ giai vi ngọc thọ, đao sơn tận tác bảo sơn; biến giới thiết sàng, hiện Bồ-đề chi pháp tọa; mãn phủ đồng trấp, hóa cam lồ chi đề hồ. Vãng tích trái chủ chi tương phùng, câu mong giải thoát; tích kiếp oan gia chi cộng hội, ngục chúa hưng từ, minh quan trì thiện.”
Hòa Thượng đã chuyển ngữ đoạn văn trên sang tiếng Việt một cách hết sức tài tình, mà vẫn giữ được thần thái trang nghiêm của nguyên tác: “Kính nguyện từ kiếp xa xưa, thẳng đến ngày nay, xả nghiệp chướng để thong dong, rửa tội khiên nên thanh tịnh. Nước đồng sôi nóng, biến thành “tám đức” mát ao sen. Lửa lò nung nấu, hóa nên lộng thơm bảy báu. Rừng kiếm núi đao, đã biến thành “bảo sơn, rừng ngọc”. Giường sắt khắp nơi, bỗng hóa hiện “Bồ đề pháp tọa”, nước đồng sôi tung rải khắp nơi, hóa nên “sữa đề hồ” ngon ngọt. Bao kiếp trái oan lại tương phùng, cùng nhau giải thoát, kết khối oan gia giờ gặp gỡ thỏa niệm tiêu diêu. Ngục chúa lành thương, Cõi U quan làm thiện”.
Quả thật, qua bút pháp điêu luyện của Hòa Thượng, người đọc gần như không còn cảm giác đây là một bản văn dịch nữa, mà như đang thưởng thức một áng văn Việt được kết tinh từ chính tâm đức, trí tuệ và kinh nghiệm hành trì của Ngài. Câu chữ vừa trang nghiêm, cổ kính, vừa giàu hình ảnh, nhạc tính và sức gợi, khiến những cảnh giới vốn khổ đau, u ám trong khoa nghi Chẩn tế lại được chuyển hóa thành những hình ảnh thanh lương, giải thoát và đầy từ lực.
Điều ấy càng trở nên đặc biệt khi Hòa Thượng không chỉ là một dịch giả am tường Hán học, mà còn là một bậc Đàn Chủ Đàn Ngoại trong nhiều Đại lễ Chẩn tế, bạt độ âm linh cô hồn. Chính sự trải nghiệm thực tế trong nghi lễ, sự hành trì lâu năm và tâm nguyện cứu độ chúng sanh đã giúp Ngài thấm sâu ý nghĩa từng câu, từng chữ trước khi chuyển thành lời Việt.
Ở nơi đây, tri và hành không còn là hai phương diện tách biệt, mà đã dung thông và hợp nhất trong chính đời sống tu tập và sự nghiệp hoằng pháp của Hòa Thượng. Ngài dịch bằng sở học, nhưng đồng thời cũng dịch bằng kinh nghiệm hành trì; chuyển chữ bằng trí tuệ, nhưng cũng chuyên chở trong đó lòng từ bi và tâm nguyện độ sanh. Có lẽ vì vậy mà bản dịch không chỉ đúng nghĩa, đẹp lời, mà còn có sức lay động lòng người.
Có thể nói, sự dung thông giữa học và hành, giữa văn chương và đạo hạnh, giữa sở tri và sở chứng chính là nét đặc sắc nơi con người và sự nghiệp của Hòa Thượng. Trong cửa Phật, khi chữ nghĩa được soi sáng bởi công phu hành trì, thì lời kinh không còn chỉ nằm trên trang giấy, mà có thể trở thành pháp âm sống động, đi thẳng vào lòng người.
Chỉ riêng đoạn văn ấy cũng đã cho thấy ngôn ngữ của khoa nghi vốn rất hàm súc, giàu điển tích và hình ảnh biểu tượng. Thế nhưng dưới ngòi bút của Hòa Thượng, những câu chữ ấy đã được chuyển sang tiếng Việt một cách uyển chuyển, trang nghiêm và giàu cảm xúc, khiến bản dịch vừa giữ được tinh thần của nguyên tác, vừa mang vẻ đẹp tự nhiên của tiếng Việt.
Đó không chỉ là khả năng của một người thông thạo Hán văn, mà còn là kết quả của một đời hành trì, một đời đứng đàn chẩn tế, một đời sống cùng kinh điển và nghi lễ. Bởi thế, nơi bản dịch của Hòa Thượng, người đọc không chỉ thấy chữ nghĩa, mà còn cảm nhận được cả tâm đức, kinh nghiệm tu chứng và hơi thở của một bậc hành giả đã sống trọn vẹn với những gì mình dịch thuật và truyền trao.
Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng còn nổi tiếng là người trực tánh, nói thẳng vì tinh thần phá tà hiển chánh. Trước những điều chưa đúng với Chánh pháp, Ngài ít khi im lặng cho qua; nhưng điều đặc biệt là sự thẳng thắn ấy nơi Hòa Thượng không hề khô cứng hay gay gắt, mà thường đi cùng với trí tuệ, sự hóm hỉnh và cách ứng xử rất nhẹ nhàng, khiến người nghe vừa suy ngẫm vừa tự nhận ra điều cần phải thấy.
Có lần, Hòa Thượng đến tham dự một hội thảo về giáo dục tại Education Catholic Head Office, Melbourne City, với Giáo sư Phan Văn Giưỡng làm thông dịch viên. Hội nghị hôm ấy quy tụ hơn bốn mươi giáo sư đại học. Trong phần thảo luận, một nữ giáo sư đến từ Anh Quốc, khi ấy đang giảng dạy tại Úc, đứng lên bày tỏ sự không đồng tình với giáo lý Bát Chánh Đạo của Phật giáo. Bà cho rằng giáo lý này không có gì đặc biệt, trong khi nhiều học giả Phật giáo lại thường xuyên đề cập đến trong các cuộc hội thảo, nghe mãi thành ra nhàm chán.
Nghe xong, Hòa Thượng không tranh luận ngay. Ngài chỉ mỉm cười rồi từ tốn hỏi:
“Thưa Giáo sư, có phải Chính phủ Úc mời Giáo sư sang đây giảng dạy không?”
Bà đáp:
“Tôi sang đây còn phải học thêm một thời gian, rồi sau đó mới được giảng dạy.”
Hòa Thượng hỏi tiếp:
“Giáo sư muốn dạy điều gì thì dạy, có phải vậy không?”
Bà trả lời:
“Thưa không. Tôi phải soạn giáo án cẩn thận rồi mới được giảng dạy.”
Hòa Thượng lại hỏi:
“Tiền lương dạy học của Giáo sư có đủ chi dùng không?”
Bà thành thật đáp:
“Không, tôi còn phải tìm thêm việc làm mới đủ.”
Đến đây, Hòa Thượng bỗng nghiêm giọng hỏi:
“Vậy tại sao Giáo sư không đi ăn cắp, ăn trộm cho đủ xài?”
Câu hỏi bất ngờ khiến cả hội trường sững lại. Mọi người đều ngạc nhiên nhìn Hòa Thượng, còn vị nữ giáo sư thì lập tức khoát tay, lớn tiếng:
“Never, never, never...”
(Không bao giờ, không bao giờ...)
Lúc ấy, Hòa Thượng mới nở một nụ cười hiền hòa và nói:
“Thưa Giáo sư, như vậy thì Giáo sư đã là một con người sống đúng đắn và đang sống trong lời dạy của Bát Chánh Đạo rồi đó. Giáo sư không chọn cách kiếm sống bằng trộm cắp hay bất chính, đó chính là Chánh nghiệp và Chánh mạng. Giáo sư cẩn thận soạn giáo án trước khi giảng dạy, có trách nhiệm với nghề nghiệp và với sinh viên, đó là biểu hiện của Chánh tinh tấn và Chánh niệm. Khi biết điều gì đúng thì làm, điều gì sai thì nhất quyết không làm, đó là đã có nền tảng của Chánh kiến và Chánh tư duy.
Bát Chánh Đạo không phải là một lý thuyết xa vời để chỉ bàn luận trong kinh sách hay hội trường. Đó chính là cách con người suy nghĩ cho đúng, nói năng cho đúng, hành động cho đúng, làm nghề chân chánh, nỗ lực chân chánh, giữ tâm tỉnh thức và hướng đời sống về điều thiện. Nếu một người sống lương thiện, không làm hại người khác, không kiếm sống bằng phương tiện bất chính, biết tự trọng và có trách nhiệm với xã hội, thì dù người ấy có gọi tên Bát Chánh Đạo hay không, trên thực tế người ấy cũng đang bước đi trên con đường ấy rồi.”
Cả hội trường lập tức vang lên những tràng pháo tay. Giáo sư Phan Văn Giưỡng cũng mỉm cười vui mừng trước cách kết thúc đầy bất ngờ và thâm thúy ấy. Ngay chính vị nữ giáo sư lúc đầu còn tỏ ý phê bình Bát Chánh Đạo cũng đã bật cười, bởi bà chợt nhận ra rằng những nguyên tắc đạo đức mà mình đang thực hành hằng ngày thực ra chính là những điều rất gần gũi với tinh thần của Chánh đạo.
Câu chuyện tuy giản dị, nhưng cho thấy rất rõ phong cách giáo hóa đặc biệt của Hòa Thượng: không cần tranh biện dài dòng, không lấy lý luận để áp đảo người khác, mà chỉ dùng vài câu hỏi rất đời thường để đưa người đối diện trở về với chính kinh nghiệm sống của họ. Từ đó, chân lý không còn là một khái niệm trừu tượng, mà hiện ra ngay trong những lựa chọn đạo đức rất bình thường của mỗi con người.
Đó cũng chính là nét đáng quý nơi Hòa Thượng: thẳng mà không làm tổn thương, sắc bén mà vẫn từ hòa, nghiêm mà vẫn hóm hỉnh, và mỗi lời nói đều có khả năng khai mở nhận thức cho người nghe.
Không chỉ để lại dấu ấn trong lĩnh vực dịch thuật, trước tác và giáo dục, Hòa Thượng còn có một tâm hồn thi sĩ rất nhạy cảm trước những vấn đề của lịch sử và nhân loại. Qua thơ ca, Ngài nhiều lần bày tỏ thái độ bênh vực chân lý, công bằng và lẽ phải, nhất là đối với những con người đã phải chịu nhiều nghịch cảnh chỉ vì dám bảo vệ điều mà họ tin là sự thật.
Một trong những nhân vật lịch sử khiến Đại lão Hòa thượng đặc biệt xúc động và dành nhiều cảm tình là nhà bác học Galileo Galilei (1564–1642). Có lẽ ở Galileo, Hòa Thượng không chỉ nhìn thấy một thiên tài khoa học, mà còn nhìn thấy hình ảnh của một con người dám đứng về phía điều mình tin là chân lý, dù phải đối diện với quyền lực, sự phán xét và những định kiến rất lớn của thời đại.
Galileo là nhà thiên văn học và vật lý học người Ý, một trong những người đặt nền móng quan trọng cho khoa học hiện đại. Qua những quan sát bằng kính thiên văn, ông tìm thấy nhiều bằng chứng ủng hộ quan điểm của Nicolaus Copernicus rằng Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, trái với quan niệm phổ biến và cách giải thích tôn giáo đương thời. Chính lập trường ấy đã đưa ông vào cuộc xung đột gay gắt với giới chức Giáo hội. Năm 1633, Galileo bị Tòa án Dị giáo La Mã xét xử, buộc phải công khai từ bỏ việc bảo vệ thuyết nhật tâm như một sự thật vật lý và sau đó phải sống những năm cuối đời trong tình trạng bị quản thúc tại gia.
Nhưng điều làm Hòa Thượng xúc động dường như không chỉ nằm ở nỗi oan khuất của một nhà bác học. Ngài đặc biệt trân trọng khí phách của một con người dám suy nghĩ, dám tìm kiếm, dám bảo vệ điều mình nhận thấy là đúng và chấp nhận trả giá cho sự trung thành với chân lý. Bởi vậy, khi đọc những câu thơ Hòa Thượng viết về Galileo, người ta cũng có thể nhận ra phần nào chính con người của tác giả: một vị Trưởng lão có cá tính mạnh mẽ, cương trực, không dễ cúi đầu trước quyền thế, không vì sự thuận nghịch của thế gian mà thay đổi điều mình cho là đúng với lương tâm và Chánh pháp.
Hòa Thượng đã viết:
Tưởng niệm tình ông thật bao la.
Địa-cầu tinh tú cõi hằng sa,
Viễn vọng ông nhìn trông tận mặt,
Ngu hèn chúng chỉ thấy quanh da!
Chúng gieo thiển-cận đầy u-ám!
Ông trải văn-minh khắp hải-hà.
Siêu nhân Thánh chúa sao mà thế?
Trái đất hình “vuông” ôi xót xa.
Galileo hỡi nhà Bác học,
Mười một năm trong chốn lao lung!
Trái đất hình tròn ông khám phá,
Nhân loại nhờ ông hiểu tận cùng.
Mắt ông mù nhưng ông không khóc!
Bọn ngu si che giấu lớp hành tung.
Dùng bạo lực bắt giam ông vào ngục,
Chúng xưng Thần nhưng thật quá cuồng ngông.
Qua những câu thơ mạnh mẽ ấy, ta thấy rất rõ một đặc điểm trong văn phong của Hòa Thượng: thương thì thương hết lòng, kính thì kính hết lòng, nhưng trước điều Ngài cho là bất công hay trái với chân lý thì lời văn trở nên quyết liệt, không né tránh. Ngài không phải mẫu người chọn sự im lặng chỉ để được yên thân. Trong suy nghĩ và trước tác của mình, Hòa Thượng thường biểu lộ một tinh thần độc lập rất mạnh: điều gì thấy đúng thì nói là đúng, điều gì thấy sai thì dám chỉ ra, dù lời nói ấy đôi khi có thể làm người khác không vừa lòng.
Chính vì vậy, viết về Galileo cũng là một dịp để người đọc hiểu thêm khí chất cang cường của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn. Cái cang cường ấy không phải là sự cố chấp hay hiếu thắng, mà bắt nguồn từ một đời sống đã quen tự lập, chịu đựng gian khó và lấy điều mình tin là chân lý làm chuẩn mực. Gần một thế kỷ đi qua bao biến động của thời cuộc, Ngài vẫn giữ được phong thái của một người xuất gia có chính kiến: không dễ bị danh lợi lay chuyển, không lấy sự vừa lòng của thế gian làm tiêu chuẩn, và cũng không vì tuổi cao mà đánh mất sự thẳng thắn của mình.
Có lẽ chính vì thế mà hình ảnh Galileo đã chạm đến Hòa Thượng rất sâu. Một người nhìn lên bầu trời để tìm chân lý của vũ trụ; một người quay vào nội tâm và kinh điển để tìm con đường giải thoát. Hai con đường khác nhau, hai thời đại khác nhau, nhưng trong cảm nhận của Hòa Thượng, dường như có chung một phẩm chất: dám đi đến cùng với điều mình tin là chân thật. Và qua bài thơ tưởng niệm Galileo, người đọc không chỉ thấy lòng cảm phục của Hòa Thượng đối với một nhà bác học bị oan khuất, mà còn thấp thoáng thấy chính phong cốt của Ngài, một bậc Trưởng lão cương nghị, trọng chân lý và suốt đời không chịu để tinh thần mình bị khuất phục trước bất cứ sức ép nào của thế gian.
Tinh thần ấy cũng được Hòa Thượng thể hiện rất rõ khi nhìn lại những hiện tượng chưa lành mạnh trong đời sống Phật giáo. Với tâm nguyện hộ trì Chánh pháp, phá tà hiển chánh và cảnh tỉnh hàng hậu học, Ngài đã viết nhiều bài mang tính suy tư và cảnh sách, trong đó có:
-Pháp hành trong thời Mạt Pháp
-Nhà cầm quyền Taliban phải chăng họ đã phá Phật?
Qua những bài viết ấy, Hòa Thượng không chỉ bàn luận về những biến động bên ngoài xã hội hay những nguy cơ đối với di sản Phật giáo, mà còn luôn quay trở lại một vấn đề cốt lõi: người con Phật phải sống thế nào để Chánh pháp không bị suy vi ngay từ trong chính đời sống của mình.
Đối với Hòa Thượng, bảo vệ Phật pháp không chỉ là bảo vệ chùa tháp, kinh tượng hay những hình thức bên ngoài, mà trước hết phải bắt đầu từ việc giữ giới, giữ phẩm hạnh, sống chân chánh và làm cho giáo pháp hiện hữu trong từng hành vi của người xuất gia cũng như người Phật tử. Bởi nếu hình thức vẫn còn mà giới đức suy giảm, nếu kinh điển vẫn được tụng đọc mà đời sống không chuyển hóa, thì sự suy yếu của Chánh pháp đã bắt đầu từ chính bên trong.
Có lẽ vì vậy mà những lời của Hòa Thượng đôi khi rất thẳng, thậm chí mạnh mẽ, nhưng đằng sau sự nghiêm nghị ấy vẫn là tấm lòng tha thiết đối với tiền đồ Phật giáo và nỗi ưu tư của một bậc Trưởng lão trước trách nhiệm trao truyền Chánh pháp cho các thế hệ mai sau.
Tinh thần ưu tư đối với tiền đồ Phật giáo và sự trưởng thành của thế hệ Tăng Ni trẻ được Hòa Thượng thể hiện rất rõ trong lời Đạo từ tại Lễ khai mạc Đại Hội Phật Giáo Úc Châu kỳ 5, tổ chức tại Tu Viện Quảng Đức. Với tư cách của một bậc Trưởng lão đã trải qua nhiều thập niên tu học và hành đạo, Ngài đã chân thành nhắn nhủ: “Bản thân tôi đã già yếu, nên xin lấy tư cách Người Trưởng Lão thưa gởi nhắn nhủ đôi lời đến với lớp Tăng Ni trẻ rằng: Là Tỳ kheo, đối với thời này dù là Mạt Pháp, trong tâm niệm chấn hưng các vị hãy coi đó là Tượng Pháp! Trong Tứ-gia-hạnh, Tỳ kheo phải xa 10 chỗ ác nạn như: Giàu có, thế lực, tà pháp, ố nữ, ác đảng, ... tất cả các đối trần bất thiện Tỳ Kheo đều nên xa lánh. Hoằng Pháp thời nay, gian nan hơn trước nhiều! Cầu mong Tứ chúng Nội Tu, Ngoại độ sáng suốt, tế nhị, kiệm khẩu hạnh, luôn Từ bi thị chúng sanh. Đối với các vị Tăng Ni còn trẻ mà rời quên Bố Tát, là giảm suy giới thể, mất đức “Chánh Hạnh” làm sao viên mãn được “Gia vụ và lợi sanh”. Mong sao Tập, Khổ chóng viễn ly. Đạo, Diệt sớm nên thành tựu”.
Những lời ấy không chỉ là một lời khuyên dành riêng cho lớp Tăng Ni trẻ, mà còn là tiếng lòng thao thức của một bậc Trưởng thượng đối với sự tồn vong của giới pháp và sức sống của Tăng đoàn. Hòa Thượng luôn ý thức rằng trong bất cứ thời đại nào, dù hoàn cảnh hoằng pháp có đổi thay đến đâu, người xuất gia vẫn phải lấy giới luật làm nền tảng, lấy nội tu làm căn bản và lấy lợi sinh làm sự nghiệp.
Đối với Ngài, nói đến chấn hưng Phật giáo không thể chỉ nói đến việc xây dựng cơ sở, tổ chức hội nghị hay mở rộng các hoạt động bên ngoài, mà trước hết phải bắt đầu từ sự thanh tịnh của Tăng đoàn và sự nghiêm trì giới pháp của mỗi người xuất gia. Một vị Tỳ-kheo nếu lơ là Bố-tát, xa rời giới luật thì giới thể dần suy giảm; mà khi nền tảng Chánh hạnh không còn vững chắc, thì việc gánh vác Phật sự và lợi lạc chúng sanh cũng khó có thể viên mãn.
Chính vì tâm niệm ấy, từ năm 2012, Hòa Thượng cùng Hòa Thượng Viện Chủ Tu Viện Quảng Đức Thích Tâm Phương đã đứng ra gầy dựng và duy trì lễ Bố-tát định kỳ hằng tháng dành cho chư Tăng Ni tại tiểu bang Victoria. Đây không chỉ là dịp để đại chúng cùng nhau ôn tụng giới pháp, mà còn là cơ hội để chư Tăng Ni gặp gỡ, chia sẻ những Phật sự chung, sách tấn nhau trên đường tu học và cùng nương tựa trong tình pháp lữ Linh Sơn cốt nhục.
Điều khiến hàng hậu học càng thêm kính phục là dù tuổi đời đã cao, sức khỏe ngày một suy giảm, Hòa Thượng vẫn luôn cố gắng hiện diện trong những kỳ Bố-tát ấy. Có những buổi sáng mùa Đông Melbourne lạnh buốt, thời tiết khắc nghiệt, nhưng bóng dáng của vị Trưởng lão vẫn có mặt giữa đại chúng. Sự hiện diện ấy đôi khi không cần nhiều lời; tự nó đã là một bài pháp sống động về tinh thần tôn trọng giới luật, trách nhiệm đối với Tăng đoàn và sự kiên trì hộ trì Chánh pháp cho đến những năm tháng cuối đời.
Hòa Thượng không chỉ khuyên người khác giữ giới, mà chính Ngài đã lấy cả cuộc đời mình để làm chứng cho điều mình khuyên dạy. Đó là sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa giáo huấn và hành trì, giữa trách nhiệm của một bậc lãnh đạo Giáo hội và đời sống của một vị Tỳ-kheo.
Có lẽ chính nơi ấy, hàng hậu học cảm nhận sâu sắc nhất ý nghĩa của hai chữ Trưởng lão: không chỉ vì tuổi đạo cao, mà còn bởi một đời biết gìn giữ giới pháp, nâng đỡ Tăng đoàn và âm thầm trao truyền ngọn đèn Chánh pháp cho những thế hệ tiếp nối.
Không chỉ là một bậc Giáo phẩm uyên thâm Phật học, Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng còn là một nhà thơ có vị trí đặc biệt trong thi đàn Phật giáo Việt Nam. Suốt nhiều thập niên, Ngài đã để lại nhiều thi phẩm giàu đạo vị, chan chứa tình người và thấm đẫm tư tưởng Phật pháp như “Tuổi Tức Từ”, “Mấy Khúc Thơ Lòng”, “Nhớ Mẹ”, “Phật Vào Cõi Thế”, “Mừng Phật Giáng Trần”...
Thơ của Hòa Thượng khi thì nhẹ nhàng, sâu lắng; khi thì hào sảng, trực diện; lúc chan chứa tình quê, tình mẹ, tình đạo; lúc lại đưa người đọc đi sâu vào những vấn đề cốt lõi của giáo lý. Đặc biệt, bài thơ “Có Có Không Không” là một thi phẩm mang đậm tư tưởng Bát Nhã, qua đó Hòa Thượng dùng ngôn ngữ thi ca để gợi mở ý nghĩa sâu xa của Tánh Không, đồng thời cảnh tỉnh người học Phật đừng rơi vào hai cực đoan chấp Có và chấp Không.
Hòa Thượng viết:
“Chớ vương vào có, mơ có có!
Học đạo không không, phải thật không
Có có mà chi đeo với có!
Đã không, thì chớ cột vào không.
Luân hồi sanh tử, ôi có có!
Bỏ hết trần lao, lặng lẽ không.
Có không, có có, không không có.
Bạn đã thấy gì, lẽ có không?
Cái có chơn thường, là có có
Cái không không thiệt, lại không không.
Tất cả đều không, không thật có,
Hiểu rồi, thật có với thật không.
Không như sừng thỏ, là không có!
Có tợ chiêm bao, ấy có không!
Chẳng chấp vào không, chấp vào có,
Thong dong tự tại kể gì “Có Không”.
Qua những câu thơ tưởng như chơi đùa với hai chữ “Có” và “Không”, Hòa Thượng đã chuyển tải một vấn đề rất sâu của Phật học bằng ngôn ngữ gần gũi và sinh động. “Không” trong tinh thần Bát Nhã không phải là hư vô, đoạn diệt; “Có” cũng không phải là một thực thể cố định, thường còn. Mọi pháp do duyên mà sinh, cũng theo duyên mà biến đổi; vì thế người học đạo không nên chấp Có, mà cũng không mắc kẹt nơi Không.
Câu kết:
“Chẳng chấp vào không, chấp vào có,
Thong dong tự tại kể gì ‘Có Không’.”
có thể xem như điểm quy tụ của toàn bài. Khi tâm không còn bị trói buộc bởi những đối đãi Có – Không, được – mất, hơn – thua, còn – mất, thì con người mới có thể bước vào sự thong dong, tự tại của người đã phần nào thấu hiểu tinh thần Trung đạo và Bát Nhã.
Bài thơ giàu đạo vị này về sau đã được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc, giúp tư tưởng và thi vị trong tác phẩm của Hòa Thượng được lan tỏa rộng rãi hơn đến với công chúng và giới Phật tử.
Bên cạnh thi ca, Hòa Thượng còn dành nhiều tâm huyết cho văn xuôi Phật giáo, với những bài viết vừa mang tính giáo lý, vừa có giá trị giáo dục và hoằng pháp, tiêu biểu như:
-Cảm Niệm Mừng Phật Thích Ca Giáng Trần
-Ý Nghĩa Ngày Thành Đạo
-Công Hạnh của Bồ Tát Quán Âm
Qua những bài viết ấy, Hòa Thượng thường lấy những sự kiện lớn trong cuộc đời Đức Phật, công hạnh của chư vị Bồ Tát và những giáo nghĩa căn bản của Phật pháp làm chất liệu để khơi dậy niềm tin, sự hiểu biết và tinh thần hành trì nơi người đọc.
Không dừng lại ở thơ và khảo luận, Hòa Thượng còn có duyên với truyện ngắn, một thể loại giúp Ngài chuyển tải giáo lý bằng những câu chuyện đời thường, gần gũi và giàu tính nhân văn. Một số tác phẩm được biết đến gồm:
-Mùa Thương
-Thức Tỉnh
-Cực Tịnh Sanh Động
-Câu Chuyện Thuở Xưa của Hai Ngài Hàn Sơn và Thập Đắc
-Chín Ba Kiếp Rồi Mới Gặp Con
-Tế Thuyền
Dù viết thơ, văn xuôi hay truyện ngắn, ngòi bút của Hòa Thượng vẫn luôn hướng về một mục đích chung: đem đạo vào đời, lấy văn chương làm phương tiện chuyển tải Chánh pháp và dùng chữ nghĩa để đánh thức nơi con người lòng từ bi, trí tuệ và ý thức quay về với chính mình.
Có thể nói, nơi Hòa Thượng, văn chương và Phật pháp không tách rời nhau. Thơ là đạo vị được cất lên bằng cảm xúc; văn là giáo pháp được chuyển thành lời; còn mỗi trang viết đều thấp thoáng phía sau đó bóng dáng của một hành giả đã sống, chiêm nghiệm và gửi gắm kinh nghiệm tu học của mình cho người đi sau.
Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng vốn là người có phong thái rất đặc biệt: uy nghi mà gần gũi, nghiêm nghị mà hóm hỉnh, thâm trầm mà chan chứa tình người. Trong những thời thuyết giảng hay khi ban Đạo từ tại các Đại lễ, hễ Ngài vừa cầm micro lên là đại chúng thường đã chuẩn bị đón nhận không chỉ những lời giáo huấn sâu sắc, mà còn cả những tiếng cười nhẹ nhàng, hoan hỷ. Cách nói chuyện của Ngài duyên dáng, ý nhị, đôi khi dí dỏm bất ngờ, nhưng phía sau nụ cười ấy luôn là một bài học thấm sâu về đạo lý và cách sống.
Ở nơi Hòa Thượng luôn toát lên phong thái của một bậc Cao Tăng Thạc Đức, đúng như lời xưa: “Hữu oai khả úy, hữu nghi khả kính”, có oai đức khiến người kính sợ điều sai quấy, có nghi dung khiến người tự nhiên sinh lòng kính ngưỡng. Ngài cũng là hiện thân sống động của câu: “Ngoại hiện tượng vương chi oai, nội hàm sư tử chi đức” – bên ngoài biểu hiện oai nghi của tượng vương, bên trong hàm chứa đức lực của sư tử.
Thế nhưng, dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Giáo Hội, Hòa Thượng chưa bao giờ tạo khoảng cách với lớp Tăng Ni trẻ. Bất cứ ai có điều chưa hiểu, có Phật sự cần thỉnh ý, hay chỉ đơn giản muốn được gần gũi học hỏi, Ngài đều từ bi hoan hỷ lắng nghe và chỉ dạy tận tình. Chính vì vậy, những ai từng có duyên thân cận đều cảm nhận được nơi Ngài một nguồn năng lượng rất đặc biệt: vừa có sự nghiêm cẩn của bậc Trưởng thượng, vừa có sự mát mẻ, ấm áp và bao dung của một người cha tinh thần.
Vào dịp Xuân Bính Thân 2016, chúng đệ tử Chùa Bảo Vương mừng thọ đại thọ 89 năm của Đại Lão Hòa Thượng, chúng con đã vô cùng hoan hỷ đón nhận bài thơ chúc thọ của Hòa Thượng Thích Giác Lượng từ California, Hoa Kỳ gởi về. Nay xin được kính nhắc lại những vần thơ ấy như một lời khánh tuế và cũng như một tấm lòng tri ân dâng lên Đại Lão Hòa Thượng:
Hóa duyên đã như nguyền, đời hữu hạn,
Thật còn gì hơn nửa kiếp “Tăng Nhân”
Vô vàn, dòng Thích Tử, giữa cõi trần,
Lượng cao cả, chí hy sinh độ chúng.
Vô thượng phước, “Ngài Huyền Tôn” tích phước,
Biên giới nào, phân định, sẻ chia nhau,
Xứng thật là Bậc Trưởng Thượng dẫn đầu,
Danh nêu sáng, gương Ngài trong Tứ chúng.
Trưởng Đại chúng, thời đại nầy quả đúng,
Tử thừa hành sứ mạng “Tác Như Lai”.
Như Như còn, là sự nghiệp ngày mai,
Lai Lai đáo, thuận: “Ta Bà Hóa Độ”...
Giờ đây, nhìn lại chặng đường gần trọn một thế kỷ hiện hữu giữa cuộc đời của Đại Lão Hòa Thượng, chúng con càng cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của từng năm tháng mà Ngài còn hiện diện với Tăng Ni và Phật tử. Bởi mỗi ngày Ngài còn trụ thế là mỗi ngày hàng hậu học còn có nơi để quy ngưỡng, còn có bậc Trưởng thượng để nương tựa, còn có cơ hội được nghe một lời chỉ dạy, được nhìn thấy một phong thái, được học thêm một bài học sống động từ chính đời tu của Ngài.
Điều chúng con mong mỏi lúc này không gì hơn là Đại Lão Hòa Thượng được pháp thể khinh an, tứ đại điều hòa, thân tâm an lạc, thọ mạng miên trường; để bóng đại thụ Bồ-đề ấy còn tiếp tục che mát cho hàng hậu học, để ngọn đèn giới pháp và trí tuệ nơi Ngài còn tiếp tục soi đường cho Tăng Ni và Phật tử trên bước đường tu học.
Chúng con thành tâm đảnh lễ và cầu nguyện mười phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Long Thiên Hộ Pháp từ bi gia hộ cho Đại Lão Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn cửu trụ Ta-bà, đạo thọ miên trường, pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, Pháp lạc vô biên, Pháp duyên vô ngại.
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Viết tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Đại Lợi, Mùa Vu Lan 2026.
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Bình Luận Bài Viết