
TIỂU SỬ VÀ CÔNG HẠNH
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN TÔN
玄宗大老和尚行誼
Đạo hiệu: Huyền Tôn • Pháp danh: Như Kế • Pháp tự: Giải Tích
Sinh năm Mậu Thìn (1928) – Quảng Ngãi, Việt Nam
Viên tịch: 0 giờ 20 phút, ngày 09 tháng 09 năm 2026 (nhằm ngày 28 tháng 07 năm Bính Ngọ), tại Chùa Lăng Nghiêm Bảo Vương, Melbourne, Victoria.
Trụ thế: 99 năm – Hạ lạp: 78 hạ.
LỜI DẪN
Trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại, có những bậc Tôn túc không chỉ được kính trọng bởi tuổi đạo và giới phẩm, mà còn bởi cả một đời âm thầm gánh vác Phật sự, đào tạo Tăng Ni, khai mở đạo tràng, gìn giữ văn hóa và làm chỗ nương tựa tinh thần cho nhiều thế hệ. Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn là một trong những bậc Trưởng lão như thế.
Bản tiểu sử và công hạnh này được Hội Đồng Giáo Phẩm và Môn đồ pháp quyến phụng soạn với tâm niệm thành kính tri ân và ghi nhận một cách trang nghiêm những dấu ấn nổi bật trong cuộc đời tu học, hành đạo và hóa duyên của Ngài. Nội dung được sắp xếp theo lối hành trạng của chư vị Đại lão Hòa thượng, lấy đạo nghiệp làm trọng tâm, lấy những dữ kiện lịch sử làm nền tảng, đồng thời tránh phô trương hay tô điểm quá mức.
Bản hành trạng được cập nhật sau khi Đại lão Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thu thần thị tịch lúc 0 giờ 20 phút, ngày 09 tháng 09 năm 2026 (nhằm ngày 28 tháng 07 năm Bính Ngọ), tại Chùa Bảo Vương, Melbourne, Victoria.
Nguyện bản hành trạng này không chỉ là lời tưởng niệm một bậc Tôn túc, mà còn là một tư liệu để hàng hậu học nhìn lại con đường của một đời tu: từ chí nguyện xuất gia, học pháp, hành pháp đến phụng sự Tăng đoàn và gìn giữ ngọn đèn Phật pháp nơi quê người.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
I. THÂN THẾ
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, đạo hiệu Huyền Tôn, thế danh Nguyễn Thái Long, sinh năm Mậu Thìn (1928), tại làng Châu Nhai, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 41, là đệ tử của Đệ Lục Tổ Sư Thiên Ấn Tự, Hòa thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung.
Thân phụ Ngài là Đại sư Thích Như Quý (1874–1942), một vị bán thế xuất gia, có học phong và duyên sâu với Phật pháp. Thân mẫu là Cụ bà Thái Thị Túc, pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý (1891–1945). Sinh trưởng trong môi trường có ảnh hưởng sâu đậm của Nho học và Phật học, Ngài sớm có nhân duyên với kinh sách, chữ nghĩa và đời sống thiền môn.
Năm 1931, lúc ba tuổi, Ngài được cha mẹ cho học chữ Nho qua các bộ Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Minh Tâm Bảo Giám, Gia Huấn. Năm 1933, lúc năm tuổi, Ngài được thân phụ cho học thuộc lòng hai thời Kinh Công phu và bộ Luật Tỳ-ni; đồng thời được học võ qua các bài Ngọc Trản, Song kiếm, Xung thiên đề đao và Nam trường quyền.
Năm Giáp Tuất (1934), lúc sáu tuổi, Ngài cùng thân phụ xuất gia tại Tổ đình Thiên Ấn. Hòa thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung tế độ, ban pháp danh Như Kế. Từ nhân duyên ấy, Ngài bước vào con đường xuất thế và gắn bó trọn đời với pháp mạch Lâm Tế Chúc Thánh.
Năm Tân Tỵ (1941), lúc mười ba tuổi, Ngài thọ giới Sa-di tại Giới đàn Viên Giác, được ban pháp tự Giải Tích. Năm Mậu Tý (1948), lúc hai mươi tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Viên Giác, được ban pháp hiệu Huyền Tôn.
II. THỜI KỲ TU HỌC VÀ HÀNH ĐẠO
Từ năm 1941, Ngài theo học tại các Phật học đường Tây Thiên (1941–1945, Giáo thọ sư là Hòa thượng Quy Thiện) và Viên Giác; năm 1958 tiếp tục hoàn tất chương trình học tại Viên Giác. Năm Canh Tý (1960), Ngài tốt nghiệp Cử nhân Hán học thuộc Bộ Giáo dục Quốc gia Việt Nam. Nền Hán học vững vàng về sau trở thành một phương tiện quan trọng để Ngài nghiên cứu kinh điển, giảng dạy, trước tác và truyền bá Phật pháp.
Năm 1945, lúc mười bảy tuổi, Ngài được Hòa thượng Tăng Cang cung cử làm Thủ tọa Chùa Viên Giác, thay vị Trụ trì đã về quê. Trong hoàn cảnh nội bộ tự viện còn nhiều cơ chế phân nhiệm, Ngài vận dụng tinh thần Lục Hòa để dung thông các bộ phận Tri sự, Hương đăng, Thủ khố, Tri khách…, góp phần xây dựng đời sống Tăng chúng theo hướng bình đẳng và an lạc.
Từ năm 1945 đến 1947, Ngài trải qua nhiều lao khổ để bảo vệ Tăng chúng và Chùa Viên Giác trong hoàn cảnh lịch sử đầy biến động. Những năm tháng ấy sớm hình thành nơi Ngài tinh thần chịu đựng, trách nhiệm và khả năng gánh vác Phật sự trong nghịch cảnh.
Từ năm 1947 đến 1951, theo mật chỉ của Hòa thượng Huyền Quang về việc thành lập Phật giáo Liên khu 5, Ngài đi bộ vào Tổ đình Thập Tháp, cùng chư Tôn đức Huyền Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn, Bảo An, Kế Châu, Như Thắng, Như Phẩm, Đồng Từ, Thiện Duyên… tham gia đoàn Thanh Niên Tăng gồm 12 vị do Hòa thượng Huyền Quang làm Thư ký. Đoàn đi thăm viếng, thuyết giảng và vận động Phật sự từ vùng duyên hải đến các địa phương miền núi. Trên đường hoằng pháp, Ngài nhiều lần đi bộ giữa Bình Định và Quảng Ngãi, trải qua những chặng đường dài trong điều kiện giao thông và xã hội còn nhiều khó khăn.
Năm 1948–1949, sau khóa tu tập tại Thập Tháp, Tăng đoàn làm việc tại Chương Hòa, Chùa Thắng Quang gần biên giới Quảng Ngãi; nhân đó qua địa bàn Sa Huỳnh và Đức Phổ làm Phật sự. Sau thời gian hoạt động cùng Tăng đoàn, Ngài trở về Quảng Ngãi tiếp tục gánh vác Phật sự với sơn môn.
Từ năm 1950 đến 1952, Ngài cùng các Hòa thượng Trí Hữu, Chí Thiện, Quang Thể, Đồng Chơn hoằng pháp tại Quảng Ngãi và Quảng Nam. Năm 1953, Ngài ra Chùa Từ Đàm, Huế để tường trình Phật sự địa phương với Hòa thượng Trí Quang và Hòa thượng Mật Nguyện; cũng trong thời gian này có duyên gặp Hòa thượng Tâm Châu từ miền Bắc vào Huế.
Từ năm 1954 đến 1959, Ngài được công cử làm Tổng Thư ký Hội An Nam Phật Học dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Thích Trí Quang, trụ sở tại Chùa Hội Phước, Quảng Ngãi. Trong sáu năm, Ngài trực tiếp đi nhiều quận huyện, làng xã của Quảng Ngãi bằng nhiều phương tiện thô sơ để vận động, tổ chức và hoằng pháp; Ngài đã góp phần thành lập 25 khuôn hội, quy tụ đông đảo Phật tử.
Từ năm 1954 đến 1960, Ngài là Giáo sư Phật học tại Phật học đường Bảo Lâm (Mỹ Khê, Quảng Ngãi) và Kim Liên (Tịnh Giang, Quảng Ngãi). Từ năm 1960 đến 1962, Ngài giảng dạy tại Phật học đường Quang Minh ở Sài Gòn. Từ năm 1969 đến 1972, Ngài đồng thời giảng dạy Việt văn tại Trường Trung học Bồ Đề ở Sài Gòn.
Năm 1960, theo lời mời của Hòa thượng Thích Thiện Hòa, Giám đốc Phật học đường Nam Việt (Ấn Quang), Ngài vào Sài Gòn dạy lớp Trung đẳng Phật học cho khoảng 60 Tăng sinh tại Chùa Minh Quang, đường Trương Minh Giảng. Đây là giai đoạn học phong và khả năng giảng dạy của Ngài ngày càng được phát huy trong môi trường Phật học miền Nam.
Từ năm 1960 đến 1970, Ngài cùng Hòa thượng Thanh Kiểm, tham gia Ban Phiên dịch thuộc Ban Tu thư Bộ Văn hóa Giáo dục Quốc gia. Năng lực Hán học cũng đưa Ngài đến với công việc phiên dịch, khảo cứu và văn hóa. Bên cạnh đó, từ năm 1960 đến 1975, Ngài còn viết và dịch cho nhiều tờ báo, sử dụng các bút hiệu Lĩnh Nam và Hạo Gia; tham gia soạn lịch Âm Dương, dịch truyện và biên soạn nhiều loại văn liệu.
Năm 1963, trong cuộc vận động của Phật giáo trước chính quyền Ngô Đình Diệm, Ngài cùng Thầy Chơn Ngữ mang huyết thư của Ủy ban Liên phái đến Tổ đình Ấn Quang; bị phát hiện, bắt giam và chịu đòn roi, vết thương để lại trên lưng còn gây đau nhức về sau. Đây là một dấu mốc cho thấy Ngài đã trải qua những thử thách không chỉ trong đời sống tu học mà còn trong trách nhiệm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của Phật giáo.
Từ năm 1964 đến 1974, Ngài là Giảng sư của Viện Hóa Đạo. Năm 1965, Ngài được cử làm Trưởng Ban Tổ chức Đại lễ Phật Đản Ất Tỵ tại tỉnh Gia Định. Năm 1969, Ngài được Viện Hóa Đạo tấn phong Giáo phẩm Thượng tọa. Từ năm 1969 đến 1972, theo lời mời của Hòa thượng Trí Thủ, Ngài đảm nhiệm Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Gia Định.
Năm 1979, trong hoàn cảnh xã hội nhiều biến động, Ngài rời Việt Nam bằng đường biển ngày 9 tháng 3. Sau chín ngày lênh đênh, Ngài đến trại tỵ nạn trên đảo Pulau Bidong, Malaysia và lưu trú khoảng một năm hai tháng. Tại Chùa Từ Bi trên đảo, Ngài thành lập Ban Đại diện Phật giáo và cùng chư Tăng Ni tổ chức sinh hoạt Phật giáo, đồng thời chăm lo đời sống tinh thần cho đồng bào tỵ nạn.
Năm 1980, Ngài đến định cư tại Melbourne, Úc Đại Lợi. Từ đây, cuộc đời hành đạo của Ngài bước sang một giai đoạn mới: cùng các bậc Tôn túc tiên phong xây dựng nền móng Phật giáo Việt Nam tại Victoria và rộng hơn tại Úc Châu – Tân Tây Lan.
Suốt 46 năm định cư và hành đạo tại Úc Châu (1980–2026), Ngài tiếp tục giảng dạy, hoằng pháp, thành lập Tăng đoàn, tham gia Phật sự Giáo hội và nâng đỡ hàng hậu học. Ngài đã giảng nói hàng ngàn bài pháp trợ đạo và phát tâm ấn tống Thần chú “Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra” để biếu tặng đồng hương Phật tử, với hàng ngàn bản được phát hành. Những hoạt động ấy cho thấy phương thức hoằng pháp của Ngài kết hợp giữa pháp học, pháp hành, giáo dục, văn hóa và sự chăm lo thiết thực cho cộng đồng.
Năm 1981, Ngài đồng sáng lập và làm Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam tại Victoria; đồng thời khai sơn Chùa Đại Bi Quan Âm tại Victoria, về sau gắn với lịch sử hình thành các cơ sở Phật giáo Việt Nam tại địa phương.
Năm 1982, Ngài và Hội tham gia bảo trợ, bảo lãnh 41 gia đình người Việt sang Úc định cư theo diện Phật giáo. Cùng năm, Ngài cũng tham gia vận động để 700 trẻ cô nhi được tiếp nhận định cư tại Hoa Kỳ. Đây là những hoạt động thể hiện sự quan tâm của Ngài đối với đồng bào và những hoàn cảnh đặc biệt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn.
Năm 1983, Ngài là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan. Từ năm 1983 đến 1987, Ngài đảm nhiệm Đệ nhất Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm các Tổng vụ Giáo Luật, Tăng Sự và Hoằng Pháp; đồng thời từ năm 1983 đến 1987 làm Chủ bút báo Phật Giáo Việt Nam Úc Châu.
Từ năm 1986 đến 2014, Ngài được cung thỉnh làm Đàn chủ Gia trì sư tại nhiều pháp hội Chẩn tế Bạt độ Âm linh Cô hồn, ở các tự viện thành viên của Giáo hội trên toàn Liên bang Úc Đại Lợi. Năm 1989, Ngài đảm nhiệm vai trò Yết-ma A-xà-lê tại Giới đàn Phước Huệ.
Năm 1992, Ngài kiến tạo Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự tại vùng Essendon, Victoria, và đây là nơi gắn bó lâu dài với đời sống tu học và hoằng pháp của Ngài đến khi Viên tịch. Từ năm 1992 đến 1999, Ngài làm Chủ tịch Hội Tài trợ Tăng Ni, Tự viện Việt Nam; tổng số tiền tài trợ là 46.875 đô-la Úc.
Năm 1993, Ngài được tấn phong Giáo phẩm Hòa thượng. Năm 1995, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ sư tại Giới đàn Phước Huệ. Năm 1999, Ngài là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan và là thành viên Hội Đồng Chứng Minh của Giáo Hội.
Năm 2005, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại Giới đàn tổ chức tại Tu viện Vạn Hạnh, Canberra, do Hòa thượng Quảng Ba làm Đàn chủ.
Từ năm 2011, Ngài đảm nhiệm danh vị Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, thuộc một giai đoạn lịch sử của Giáo hội. Từ năm 2012, Ngài cùng Thượng tọa Tâm Phương chủ trương Bố-tát định kỳ hằng tháng cho Tăng đoàn tại Victoria và luôn hoan hỷ tham dự.
Trong những năm tháng sau cùng, Ngài trụ trì và hoằng pháp tại Chùa Bảo Vương ở vùng Ardeer, Victoria, hằng tuần tại Chùa Bảo Vương đều có thời giảng Phật pháp, tụng kinh, khóa lễ kỳ an, kỳ siêu; các lễ lớn được tổ chức trang nghiêm, là nơi nương tựa tinh thần cho đông đảo Phật tử.
III. TRƯỚC TÁC
Trong đạo nghiệp của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, trước tác và khảo cứu là một phương diện nổi bật. Ngài không xem việc học là một công việc riêng của cá nhân, mà là phương tiện để lưu giữ những gì đã học, làm sáng tỏ những điều cần truyền trao và giúp người sau có thêm tư liệu trên con đường học Phật.
Nhiều tác phẩm, bản kinh và nghi quỹ gắn với tên tuổi Ngài, như Chư Kinh Mật Giáo, Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh, Kinh Bát Đại Nhân Giác, 32 Tướng tốt và 80 Vẻ đẹp của Phật, Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi cùng một số tài liệu phục vụ việc tu học và nghi lễ.
Một dấu ấn đáng chú ý là công trình “5.000 Năm Việt Lịch”. Công trình thể hiện tâm nguyện tìm hiểu lịch sử, văn hóa và nguồn cội dân tộc. Đối với một vị Tăng sĩ sống lâu năm nơi hải ngoại, việc lưu tâm đến Việt lịch và ký ức văn hóa còn mang một ý nghĩa đặc biệt: giữ cho cộng đồng người Việt, dù xa quê hương, vẫn không đánh mất mối liên hệ với cội nguồn.
Những công trình ấy có thể được tiếp tục khảo cứu, đối chiếu và hiệu đính dưới những phương pháp học thuật khác nhau. Tuy nhiên, điều đáng trân trọng trước hết là tâm nguyện làm việc lâu dài với sách vở, với văn hóa và với Phật học của một bậc Trưởng lão. Đó là công việc cần nhiều kiên nhẫn, nhiều năm tháng và một tâm thế không ngừng học hỏi.
Trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, những bậc danh tăng có học phong thường để lại cho hậu thế không chỉ chùa tháp mà còn để lại chữ nghĩa. Chữ nghĩa giúp đạo nghiệp được ghi lại; đạo nghiệp giúp chữ nghĩa có chiều sâu. Ở Đại lão Hòa thượng, hai phương diện ấy bổ trợ cho nhau: lấy học để hành, lấy hành để giáo hóa, lấy văn để lưu truyền.
Nếu nhìn toàn bộ trước tác trong dòng chảy cuộc đời Ngài, có thể nhận thấy một điểm nhất quán: Phật pháp, giáo dục, văn hóa và lịch sử không bị tách rời. Hoằng pháp không chỉ ở pháp tòa; hoằng pháp còn ở trang sách, ở lớp học, ở tự viện, ở báo chí và trong chính cách một vị Tăng sĩ gìn giữ tiếng nói của dân tộc nơi quê người.
IV. CHƯ TÔN THIỀN ĐỨC SUY TÔN ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG LÊN NGÔI VỊ TĂNG TRƯỞNG
Trong nhiều thập niên hành đạo tại Úc Châu, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn từng đảm nhiệm nhiều trọng trách trong sinh hoạt Tăng đoàn và Giáo hội, trong đó có danh vị Tăng Giáo Trưởng thuộc một giai đoạn lịch sử của Giáo hội. Qua đó, Ngài đã góp phần duy trì Tăng đoàn, gìn giữ truyền thống và nâng đỡ hàng hậu học.
Trước đạo phong, tuổi đạo, giới đức và công hạnh mà Ngài đã vun bồi suốt một đời tu hành, Chư Tôn Thiền đức trong Hội Đồng Giáo Phẩm đồng tâm suy tôn Đại lão Hòa thượng lên ngôi vị “Tăng Trưởng Phật giáo Úc Châu”. Danh vị này được HĐGP thống nhất sử dụng trong Quyết định suy tôn hiện hành, như một sự biểu đạt lòng kính ngưỡng và tri ân đối với một bậc Trưởng lão có nhiều đóng góp cho Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu.
Sự suy tôn ấy không nhằm tô điểm thêm cho đạo nghiệp, cũng không phủ nhận những danh vị lịch sử Ngài từng đảm nhiệm; mà chính là sự cô đọng của đạo tình đối với một bậc Thạch trụ Tòng lâm đã hơn tám thập niên sống đời xuất gia, học pháp, hành pháp và phụng sự Tam Bảo.
Đặc biệt, việc suy tôn được thực hiện khi Đại lão Hòa thượng còn hiện tiền, trong lúc thân tứ đại đang thuận theo bệnh duyên. Vì vậy, đây không chỉ là một nghi thức tôn kính, mà còn là một nghĩa cử tri ân và một sự trao truyền: những lời kính ngưỡng được dâng lên chính vị Trưởng lão đã một đời tu hành và hành đạo; đồng thời nhắc nhở hàng hậu học tiếp tục gìn giữ những giá trị mà các bậc tiền bối đã trao truyền.
“Tăng Trưởng” ở đây không chỉ mang ý nghĩa danh vị, mà còn là sự tôn xưng một bậc Trưởng lão trưởng thành trong tuổi đạo, vững vàng trong giới pháp, có sở học, kinh nghiệm hành đạo và là điểm tựa tinh thần cho Tăng Ni, Phật tử. Vì thế, sự suy tôn Ngài cũng là lời tự nhắc nhở của hàng hậu học: lấy giới đức làm nền, lấy học phong làm ánh sáng, lấy hòa hợp Tăng đoàn làm trọng và lấy sự tiếp nối Phật pháp làm tâm nguyện.
Bởi vậy, điều còn lại sâu xa nhất của sự suy tôn không phải là danh vị, mà là đạo phong và trách nhiệm kế thừa. Những gì các bậc tiền bối đã dày công xây dựng nơi Úc Châu hôm nay cần được trân trọng, gìn giữ và tiếp nối bằng đời sống tu học chân thành, tinh thần hòa hợp và chí nguyện phụng sự Tam Bảo.
V. THỜI KỲ HÓA DUYÊN HOÀN MÃN
Từ Tổ đình Thiên Ấn nơi Quảng Ngãi đến những đạo tràng tại Melbourne; từ những lớp Phật học tại Việt Nam đến sinh hoạt Tăng đoàn nơi hải ngoại; từ trang sách đến pháp sự, một đường dây xuyên suốt trong cuộc đời Ngài vẫn là chí nguyện học pháp, hành pháp và phụng sự Phật pháp.
Một đời hóa duyên của Đại lão Hòa thượng đã đi qua gần trọn một thế kỷ. Từ khi phát tâm xuất gia thuở thiếu thời cho đến những năm tháng cuối của đời tu hành, Ngài đã trải qua nhiều hoàn cảnh, nhiều vùng đất và nhiều vai trò, nhưng cốt lõi vẫn là một đời hướng về Tam Bảo và phụng sự Phật pháp.
Khi tuổi đời đã cao, thân tứ đại dần thuận theo quy luật vô thường, những công việc thế gian có thể nhẹ xuống, nhưng giá trị của một đời đạo hạnh lại càng hiển lộ. Bởi một bậc Trưởng lão đến cuối đời không chỉ được nhớ bằng những gì Ngài đã làm, mà còn bằng những gì Ngài đã gieo vào tâm thức của người sau. Nhất là lời khai thị cuối cùng của Đại lão Hòa thượng vào ngày 9/8/2026 tại lễ giải chế An Cư của Tăng đoàn tu viện Vạn Hạnh.
GIỚI ĐỨC TRỌN ĐỜI, TỪ THIÊN ẤN GIỮ GÌN TÔNG PHONG CHÁNH PHÁP;
ĐẠO NGHIỆP MUÔN THUỞ, ĐẾN ÚC CHÂU GIEO RỘNG HẠNH NGUYỆN NHƯ LAI.
Đại lão Hòa thượng đã thuận theo quy luật vô thường, thu thần thị tịch lúc 0 giờ 20 phút, ngày 09 tháng 09 năm 2026 (nhằm ngày 28 tháng 07 năm Bính Ngọ), tại Chùa Lăng Nghiêm Bảo Vương, Melbourne, Victoria.
Trụ thế: 99 năm – Hạ lạp: 78 hạ.
Nguyện đạo phong, chí nguyện và những hạt giống Phật pháp Ngài đã gieo trồng, tiếp tục trở thành nguồn cảm hứng cho hàng hậu học trên bước đường phụng sự Đạo pháp và dân tộc.
NAM MÔ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG CHÚC THÁNH,
TỨ THẬP NHẤT THẾ, KHAI SƠN LĂNG NGHIÊM BẢO VƯƠNG TỰ,
HUYỀN TÔN ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC LINH
HỘI ĐỒNG GIÁO PHẨM VÀ MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN PHỤNG SOẠN
Bình Luận Bài Viết